Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đánh giá gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng. Chương 3: Thực trạng gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 2.
Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm báo cáo tài chính Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 01) của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), báo cáo tài chính là các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu cho người sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện nay bao gồm bốn báo Luận văn thạc sĩ Kế toán cáo chính: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Mỗi báo cáo tài chính cung cấp thông tin về các khía cạnh khác nhau trong tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin có thể đánh giá toàn diện về tình hình tài chính đó, từ đó đưa ra quyết đinh hợp lý.
Cụ thể: - Bảng cân đối kế toán: cung cấp thông tin về tình trạng tài chính (giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp tại một thời điểm. - Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về doanh thu, chi phí và kết quả lãi hoặc lỗ trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về các khoản tiền thu, chi trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp. - Thuyết minh báo cáo tài chính là bản giải trình giúp các đối tượng sử dụng thông tin hiểu rõ hơn về các con số trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Thuyết minh báo cáo tài chính 10 thường bao gồm bốn nội dung cơ bản: chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp; các thông tin bổ sung cho các khoản mục trên báo cáo tài chính; biến động vốn chủ sở hữu và các thông tin khác. Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, mỗi sự thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến các báo cáo kia. Qua đó, người sử dụng thông tin nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ. • Mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính được thể hiện qua sơ đồ sau: Luận văn thạc sĩ Kế toán Sơ đồ 2.
Sơ đồ mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính 11 2. Khái niệm gian lận Gian lận là một khái niệm pháp lý rất rộng, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240, gian lận được hiểu là “hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị. Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”. Hành vi gian lận thường khó bị phát hiện do được tạo ra và che dấu một cách cố ý.
Kết quả nghiên cứu về gian lận theo công trình nghiên cứu của ACFE chỉ ra có ba loại gian lận như sau: - Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ như biển thủ tiền, hàng tồn kho, gian lận tiền lương). - Tham ô: xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản công ty hay làm hành động trái ngược với các nghĩa vụ Luận văn thạc sĩ Kế toán họ đã cam kết với tổ chức để có lợi cho bản thân hoặc một bên thứ ba. - Gian lận báo cáo tài chính là hành vi cố tình làm sai lệch số liệu các khoản mục và thông tin được công bố trên báo cáo tài chính của một tổ chức. Việc lập BCTC gian lận có liên quan đến các sai sót cố ý bỏ sót số liệu hoặc thông tin thuyết minh trên BCTC để lừa dối người sử dụng thông tin.
Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán. Các mục đích này có thể là giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; làm tăng vốn ảo trên thị trường chứng khoán, đồng nhất báo cáo với dự báo của các nhà phân tích, đạt được các hợp đồng vay nợ hay để các nhà quản lý đạt được đãi ngộ ngắn hạn. Những gian lận báo cáo tài chính này gây ra sự lệch lạc về thông tin, ảnh hưởng đến thị trường và các quyết định của các nhà đầu tư cũng như các đơn vị cung cấp tín dụng và làm giảm chất lượng báo cáo tài chính của công ty. 12 Kết quả nghiên cứu của ACFE cũng cho thấy, trong các trường hợp khảo sát, gian lận liên quan đến biển thủ tài sản chiếm đến khoản 90% nhưng mức thiệt hại cho nền kinh tế là thấp nhất.
Trong khi đó, các gian lận trên báo cáo tài chính tuy chiếm tỷ lệ thấp nhất nhưng lại gây hậu quả nặng nề nhất cho nền kinh tế. Động cơ thực hiện gian lận trên báo cáo tài chính 2. Các nhân tố ảnh hưởng tới động cơ thực hiện gian lận trên BCTC Ban Giám đốc công ty hoàn toàn có khả năng thực hiện các hành vi gian lận vì họ thường xuyên rơi vào các tình huống đối mặt trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc bóp méo các bút toán kế toán dẫn đến ghi nhận sai thông tin báo cáo. Tam giác gian lận là công trình nghiên cứu của Donald R.Cressey Luận văn thạc sĩ Kế toán (1919 – 1987).Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20.
Xét trên khía cạnh hành vi,cho đến nay, công trình nghiên cứu của Donal R.Cressey (1953) về “Tam giác gian lận” được xem là nền tảng giải thích cho các gian lận.Cressey đã tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ, thông qua khảo sát khoảng 200 tội phạm kinh tế, nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật. Ông đã đưa ra mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày các nhân hố dẫn đến các hành vi gian lận và ngày nay đã trợ thành mộ trong những mô hình chính thống được sử dụng trong nhiều ngành khác nhau để nghiên cứu về gian lận.Cressey, các yếu tố thúc đẩy gian lận gồm có: Động cơ/ áp lực, cơ hội, thái độ/ sự hợp lý. Mô hình tam giác gian lận Áp lực là những tác động (bên ngoài hoặc bên trong) làm cho người quản lý có xu hướng làm sai lệch báo cáo tài chính. 3 yếu tố có thể dẫn đến việc Ban giám đốc công ty bóp méo báo cáo tài chính đó là (1) Rủi ro liên quan đến sự cân bằng hoặc lợi nhuận tài chính là kết quả của môi trường kinh Luận văn thạc sĩ Kế toán tế, cạnh tranh hoặc chính nội bộ công ty; (2) Áp lực quá mức của bên thứ ba lên Ban giám đốc; (3) Lợi ích cá nhân của Ban giám đốc hoặc Hội đồng quản trị bị ảnh hưởng: (1) Rủi ro liên quan đến cân bằng tài chính hoặc lợi nhuận tài chính: • Cạnh tranh khốc liệt hoặc thị trường bị bão hòa, kéo theo biên lợi nhuận giảm dần; • Khả năng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ sự thay đổi quá nhanh của khoa học công nghệ, tốc độ lỗi thời của sản phẩm hoặc lãi suất biến động; • Nguồn cầu tiêu dùng giảm hoặc các thương vụ thất bại; • Các khoản lỗ hoạt động có khả năng dẫn đến phá sản, tịch biên tài sản thế chấp hoặc những đợt mua bán sát nhập công ty tiêu cực; • Dòng tiền hoạt động có giá trị âm liên tục nhiều năm; • Tăng trưởng nóng hoặc lợi nhuận không thường xuyên; 14 • Các yêu cầu mới về tiêu chuẩn kế toán, luật hoặc chính sách; (2) Áp lực từ bên thứ ba dành cho Ban giám đốc: • Áp đặt lợi nhuận quá cao và phi thực tế hoặc các kỳ vọng bất hợp lý; • Các yêu cầu về nợ và vốn chủ sở hữu để giữ vị thế cạnh tranh; • Các yêu cầu về niêm yết trên sàn chứng khoán • Những điều khoản trong hợp đồng cung cấp tín dụng; (3) Lợi ích cá nhân của Ban giám đốc hoặc Hội đồng quản trị bị ảnh hưởng: • Chính sách lương thưởng dựa trên kết quả kinh doanh, giá cổ phiếu hoặc dòng tiền; • Cam kết cá nhân đối với nghĩa vụ nợ của công ty.
Luận văn Cơ hội là những thạc trường sĩkiệnKế hợp tạo điều toán cho người quản lý thực hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Các cơ hội có thể dẫn đến gian lận trên BCTC bao gồm: (1) Ngành nghề hoạt động của công ty có thể bao gồm: • Các giao dịch lớn dựa trên nền tảng quen biết.