Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương này trình bày về khái niệm, nguyên nhân hình thành, các đặc điểm của GMMH, đặc điểm gió mùa trên khu vực Nam Bộ và những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến gián đoan GMMH. Số liệu và phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày về nguồn số liệu cũng như các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. Một số kết quả nghiên cứu đat được. Khái quát cơ bản về gió mùa mùa hè 1. Khái niệm gió mùa Với tầm quan trọng của hệ thống gió mùa trên quy mô toàn cầu thì việc nghiên cứu về gió mùa từ xưa đến nay được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm với nhiều các định nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên cho đến nay, định nghĩa về gió mùa cũng như vùng gió mùa được xác định trên bản đồ khí hậu thế giới của Khromov (1957) vẫn đang được thừa nhận và là cơ sở chủ yếu để nghiên cứu gió mùa. Theo Khromov, gió mùa là hoàn lưu của khí quyển trên một phạm vi rộng lớn của bề mặt Trái đất, trong đó gió thịnh hành trong mùa đông và mùa hè có hướng gần như ngược nhau. Ramage (1971) [29] đã đưa ra một số chỉ tiêu định lượng cụ thể hơn về chỉ tiêu xác định khu vực gió mùa. Theo ông, một vùng được gọi là có gió mùa nếu thoả mãn bốn điều kiện sau: (1) Hướng gió thịnh hành trong tháng 1 và 7 phải lệch nhau một góc lớn hơn hoặc bằng 1200; (2) Tần suất trung bình của hướng gió thịnh hành trong tháng 1 và 7 phải lớn hơn 40%; (3) Tốc độ gió tổng hợp trung bình của ít nhất một trong hai tháng 1 và 7 phải lớn hơn 3 m/s; (4) Sự luân phiên của hoàn lưu xoáy thuận với xoáy nghịch xảy ra trong tháng 1 và tháng 7 của hai năm liên tiếp, trên một vùng có kích thước 5 kinh/vĩ độ, phải nhỏ hơn một lần.
Theo định nghĩa này, vùng gió mùa được xác định như trong Hình 1. Trong hình vẽ, chỉ có vùng trong hình chữ nhật là thoả mãn tất cả các tiêu chí của định nghĩa trên. Ngoài ra giới han phía bắc của vùng có gió mùa trên bán cầu Bắc có tần suất luân phiên của xoáy thuận và xoáy nghịch bề mặt trong mùa hè và mùa đông nhỏ. Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong định nghĩa của Ramage, bởi vì xét sự thay đổi gió theo mùa phải loai bỏ chuyển động quy mô nhỏ.
Như vậy, vùng có gió mùa chủ yếu trên Trái đất theo định nghĩa của Ramage được giới han trong trong pham vi từ 250S - 350N và từ 300W-1700E, chiếm hầu hết vùng nhiệt đới của bán cầu Đông. Vùng có gió mùa theo Ramage [29] Nguyên nhân hình thành gió mùa: Có 3 nhân tố cơ bản hình thành nên gió mùa, đó là sự nóng lên khác nhau giữa lục địa và đai dương, sự bốc hơi nước từ bề mặt Trái đất và sự tự quay của Trái đất [29]. Cụ thể như sau: - Sự nóng lên khác nhau giữ lục địa và đai dương: do hoat động biểu kiến của mặt trời, đồng thời do chế độ nhiệt khác nhay giữ lục địa và đai dương nên có sự biển đổi của khí áp theo mùa rất lớn. Sự biến đổi này làm cho gradient khí áp đổi hướng theo mùa và dẫn đến có sự đổi hướng gió thịnh hành theo mùa.
- Sự chuyển pha của hơi nước: Trong mùa hè không khí nóng và ẩm hơn do hơi nước được bốc lên từ bề mặt đất nóng, hơi nước trong khí quyển sẽ ngưng kết và giải phóng năng lượng làm cho không khí nóng lên và chuyển động đối lưu được tăng cường, độ cao đối lưu được nâng lên, cường độ và pham vi của hoàn lưu gió mùa cũng manh hơn và mở rộng hơn. - Sự tự quay của Trái đất: Do Trái đất tự quay nên đã tao ra lực Coriolis làm lệch hướng chuyển động về bên phải ở bán cầu Bắc và bên trái ở bán cầu Nam. Độ lớn của lực này tăng dần từ xích đao về cực và đat cực đai ở vùng cực. Vì vậy tai vĩ độ thấp dòng khí chuyển động theo hướng của lực Gradient khí áp giữa áp cao và áp thấp, còn tai những vùng vĩ độ cao hơn, dòng khí sẽ chuyển động ngược chiều kim 4 đồng hồ trong vùng khí áp thấp và thuận chiều kim đồng hồ trong vùng áp cao ở bán cầu Bắc, bán cầu Nam thì ngược lai.
Gió mùa mùa hè Châu Á Gió mùa mùa hè Châu Á là hệ thống gió mùa lớn nhất và đặc trưng nhất trong hệ thống khí hậu toàn cầu. Đối với sự phân chia khu vực của gió mùa mùa hè, Bin Wang và Lin Ho (2001) đã phân chia ba tiểu hệ thống GMMH: GMMH Ấn Độ (ISM), GMMH tây bắc Thái Bình Dương (NWPSM), GMMH đông Á (EASM) (Hình 1. Sau đó, Bin Wang, Steven Clemens và Ping Liu (2003) lai đưa ra sự phân chia các khu vực gió mùa áp dụng cho cả SM và WM, gồm: Gió mùa Nam Á (5-270N, 65- 1050E), gió mùa nhiệt đới Tây- Bắc Thái Bình Dương (5-22,50N, 105-1500E), gió mùa nhiệt đới Đông Á (22,5-450N, 105-1400E) [34]. Trong đó GMMH Đông Á bao gồm 8 thành phần chủ yếu: (1) Áp cao châu Úc và áp cao Nam Thái Bình Dương; (2) dòng gió vượt xích đao; (3) gió mùa tây nam; (4) rãnh gió mùa và ITCZ; (5) áp cao Tây Bắc Thái Bình Dương; (6) dòng gió đông nhiệt đới; (7) front mưa Mai; và (8) nhiễu động ngoai nhiệt đới.
GMMH Nam Á lai được đặc trưng bởi các thành phần: (1) áp cao Mascarene; (2) dòng xiết vượt xích đao Đông Phi; (3) rãnh gió mùa ở phía bắc Ấn Độ; (4) áp cao Tây Tang; (5) dòng xiết gió đông nhiệt đới; (6) mây gió mùa; (7) mưa gió mùa [34] Hình 1. Bản đồ phân chia khu vực SM Châu Á-Thái Bình Dương [35] 1. Nguồn gốc và đặc điểm GMMH ở Việt Nam 5 Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Châu Á gió mùa, một khu vực gió mùa rộng lớn và điển hình nhất trên thế giới. Hơn nữa, nước ta lai nằm trong vùng giao tranh của các hệ thống gió mùa (gió mùa Nam Á và gió mùa Đông Á) nên chế độ hoàn lưu trên lãnh thổ Việt Nam hết sức phức tap.
Gió mùa tây nam (GMMH) ở nước ta có nguồn gốc từ tín phong đông nam từ áp cao Mascarene (và một phần từ áp cao bán cầu nam ở châu Úc thổi về phía xích đao) đổi hướng thành dòng xiết Đông Phi (hay còn gọi là dòng xiết Somali) rồi tiếp tục thổi về phía đông, tao thành gió mùa tây nam. Đặc trưng cho mùa hè là hai trung tâm hoat động chính ở Đông Nam Á và miền Tây Thái Bình Dương là áp thấp Nam Á có tâm ở Ấn Độ, Pakistan và áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, thời tiết mùa hè được quy định bởi sự chiếm ưu thế của một trong hai trung tâm hoat động này. Hoat động GMMH ở khu vực Việt Nam trải qua các giai đoan chính là (1) Giai đoan bắt đầu và phát triển; (2) Giai đoan ổn định; (3) Giai đoan suy yếu và rút lui.
Trong đó giai đoan bắt đầu GMMH trong khoảng thời gian từ nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5. Giai đoan ổn định vào khoảng khoảng tháng 6 và tháng 7, đây là thời kỳ hoat động manh mẽ nhất của GMMH. Giai đoan suy yếu của GMMH là khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9. Trong tháng 10 thì về cơ bản là GMMH đã kết thúc [2].
Gió mùa mùa hè ở Nam Bộ: Nam Bộ nằm trong khu vực giao tranh của hai hệ thống gió mùa lớn là hệ gió mùa mùa hè Nam Á và gió mùa mùa hè Đông Á do đó thời tiết và khí hậu ở đây diễn ra hết sức phức tap. Trong các vùng khí hậu ở nước ta, Nam Bộ là một trong các khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi GMMH. Vào đầu mùa hè khi đới bức xa cực đai và đới gió hành tinh dịch chuyển lên phía bắc, tín phong đông nam từ bán cầu Nam vượt qua xích đao thổi vào Đông Nam Á. Dòng khí này phối hợp với dòng khí hướng tây nam thổi từ phần phía nam của áp thấp Nam Á tao thành đới gió tây nam ở mặt đất và hệ thống gió tây biểu 6 hiện rõ từ mực 850mb (1,5 km) đến mực 700mb (3 km), khi gió mùa manh có thể lan tới độ cao 5km.
Vào đầu mùa hè, từ cuối tháng 4 đến tháng 5 (tuỳ theo gió mùa sớm hay muộn) áp thấp vịnh Bengal, một bộ phận của áp thấp Nam Á phát triển manh và mở rộng sang phía đông, đồng thời cao áp cận nhiệt Tây Thái Bình Dương trên cao dịch chuyển sang phía đông, gió mùa tràn tới khu vực Nam Bộ. Do tác động của hội tụ do ma sát và nâng của địa hình đối với dòng khí tây nam mang ẩm mưa rào bắt đầu sớm trên khu vực Tây Nguyên-Nam Bộ [10]. Trong khi lượng mưa cung cấp cho khu vực này phần lớn là mưa gió mùa mùa hè thì việc gián đoan gió mùa sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến chế độ mưa, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến các hoat động nông nghiệp và cuộc sống hằng ngày của người dân ở khu vực này. Nghiên cứu gián đoan gió mùa mùa hè trong nước và trên thế giới 1.
Nghiên cứu về gián đoan gió mùa mùa hè trên thế giới Trên thế giới, do tác động manh mẽ của gió mùa mùa hè đến thời tiết và khí hậu nên những nghiên cứu về gió mùa mùa hè ngày càng được quan tâm ở những qui mô không-thời gian khác nhau. Đối với khu vực châu Á, hệ thống gió mùa vẫn là hệ thống đa dang và phức tap nhất. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các đợt hoat động/gián đoan của GMMH dựa trên các chỉ tiêu và phương pháp khác nhau được thực hiện. Khi nghiên cứu về gió mùa trên khu vực Ấn Độ, Krishnamurti and Bhalme (1976) [21] đã chỉ ra rằng dao động nội mùa hàng năm trong ISM chủ yếu là do sự xuất hiện của các đợt khô han kéo dài, trong đó lượng mưa quy mô lớn trong đới gió mùa Ấn Độ bị gián đoan trong vài ngày vào các tháng cao điểm sớm nhất là tháng 7 đến tháng 8 được gọi là “gián đoan” gió mùa.
Vì là khía canh quan trọng nhất của gió mùa do tác động trực tiếp đến kinh tế xã hội nên lượng mưa là cơ sở để xác định các đợt hoat động và gián đoan gió mùa trong nhiều nghiên cứu trên khu vực Ấn Độ.