CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ BẰNG PHƯƠNG THỨC XÉT XỬ Hiện nay trên thế giới, hệ thống Tòa án của một số quốc gia đã và đang tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tư pháp như: hệ thống Tòa án của Úc, Singapore, Malaysia… và gần đây tại Mỹ, Trung Quốc cũng đã tổ chức nhiều phiên tòa xét xử trực tuyến để tránh lây nhiễm Covid-19. Theo Nghị quyết số 52/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đề ra chủ trương xây dựng mô hình Tòa án điện tử. Đặc biệt, trước tình hình dịch bệnh ngày càng căng thẳng với sự xuất hiện các ổ dịch tại các thành phố lớn, ngày 31/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 thực hiện cách ly toàn xã hội, hạn chế ra ngoài khi không thật sự cần thiết, thực hiện nghiêm việc giữ khoảng cách tối thiểu khi giao tiếp, không tập trung quá 02 người ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện và tại nơi công cộng. Ngày 01/02/2020, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 gây ra tại Việt Nam.
Thực hiện theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC cũng ban hành Chỉ thị số 02/2020/CT-CA ngày 10/3/2020 về phòng chống dịch Covid-19 trong hệ thống TAND có nội dung: “Từ nay đến hết tháng 3 năm 2020, các Tòa án tập trung thực hiện tốt các yêu cầu sau đây: Tạm dừng việc nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ và tiếp công dân trực tiếp tại trụ sở Tòa án. Tòa án thông báo, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thông qua các phương thức khác như: Gửi đến Tòa án thông qua dịch vụ bưu chính; gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án”. Công văn số 113/TANDTC-VP ngày 30/3/2020 của TANDTC về việc phòng, chống dịch bệnh Covid-19, cụ thể từ ngày 31/3/2020 đến 15/4/2020 các Tòa án chỉ đạo tập trung thực hiện nghiêm Chỉ thị số 02/2020/CT-CA ngày 10/3/2020 của Chánh án TANDTC về phòng, chống dịch Covid-19 trong hệ thống TAND. Trong việc gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ Điều 186 BLTTDS 2015 đã thừa nhận quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Họ có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tiến hành khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Theo Điều 189 BLTTDS 2015, người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện này là văn bản thể hiện ý chí của người khởi kiện muốn Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm của mình. Tòa án dựa trên cơ sở đơn 10 khởi kiện sẽ thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, từ đó phát sinh nhiều mối quan hệ pháp lý cần được xem xét liên quan đến nhiều đối tượng.
Pháp luật tố tụng quy định đơn khởi kiện phải có những nội dung chính như sau: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện, người có quyền và lợi ích được bảo vệ, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở nếu là cơ quan, tổ chức, số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có); trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng; quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Về nguyên tắc, khi nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền thì người khởi kiện phải nộp kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện sẽ phải tự giao nộp bổ sung hoặc bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Sau khi tiếp nhận, Tòa án có nghĩa vụ xác minh, đánh giá tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện để xác định người khởi kiện có chứng cứ ban đầu làm cơ sở cho yêu cầu của họ là đủ. Lúc này, Tòa án mới tiến hành thụ lý vụ án. Theo Điều 6 BLTTDS 2015 về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. Dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong pháp luật tố tụng, thừa nhận cho các đương sự có quyền chủ động quyết định trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; khi cho rằng các quyền, lợi ích hợp pháp này bị xâm phạm trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, nếu đương sự không đưa ra được chứng cứ cho yêu cầu của mình thì đương sự đó sẽ chịu nhiều bất lợi trong hoạt động tố tụng của mình; Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ khi có đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ vụ án dân sự khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được theo điểm e khoản 1 Điều 97 BLTTDS 2015 và trong trường hợp không có yêu cầu của đương sự nhưng Tòa án xét thấy cần thiết phải thu thập chứng cứ để quá trình giải quyết vụ án dân sự được trở nên thuận lợi, khách quan, đúng đắn thì sẽ tự thu thập chứng cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015. 11 Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015, Tòa án có quyền ủy thác cho Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự. Thực tiễn, khi Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bị đơn có thay đổi nơi cư trú thì nhiều trường hợp nguyên đơn cung cấp địa chỉ của họ không chính xác do không biết chắc chắn địa chỉ, không tìm được địa chỉ của đương sự, đương sự không có nơi cư trú ổn định, cũng có khi nguyên đơn cố tình không cho Tòa án biết địa chỉ của họ.1 Điều này dẫn đến nhiều vụ án kéo dài do tạm đình chỉ chờ kết quả ủy thác. Ví dụ: Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 262/2016/QĐ – UTTA ngày 09/5/2016 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về “Dân sự” giữa nguyên đơn là Bà Thái Thị Tú cùng các nguyên đơn khác và bị đơn là Ông Thái Bá Tước.
Trong vụ án trên, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Thái Kim Tiếng, Thái Chí Phương, Thái Chí Tâm, Thái Mỹ Linh có địa chỉ ở tại số nhà 82/35, đường Nguyễn Hồng Đào, phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. TAND huyện Trần Văn Thời đã dựa vào lời khai trên của nguyên đơn nên đã ra quyết định ủy thác cho TAND quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên nhưng TAND quận Tân Bình có phiếu xác minh gởi đến TAND huyện Trần Văn Thời xác định các đương sự trên không có thường trú, tạm trú, sinh sống tại địa chỉ như ủy thác. Như vậy, việc ủy thác thu thập chứng cứ nhiều lúc gặp khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án khi không xác định được địa chỉ đương sự, người làm chứng.2 Bên cạnh đó, theo nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tại Điều 7 BLTTDS 2015 thì trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ cho đương sự, Tòa án, VKS mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp chứng cứ của mình, trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản trình bày rõ lý do không cung cấp được cho đương sự, Tòa án, VKS. 1 Đặng Minh Trung (2017), Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
2 Xem thêm tại Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 262/2016/QĐ-UTTA ngày 09/5/2016 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. 12 Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu và chứng cứ cho Tòa án. Tức là, khi đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp loại trừ nghĩa vụ chứng minh được pháp luật quy định phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015.