phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Thực trạng việc làm cho ngƣời lao động nông thôn tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Định hƣớng và một số giải pháp tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Luan van 4 7.
Tổng quan nghiên cứu Giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia. Do vậy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu nhƣ: - PGS. Nguyễn Quang Hiển (1995), Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp, Nxb Thống kê, Hà Nội.
Trong cuốn sách này tác giả đã nêu và phân tích đƣợc điểm mạnh và yếu của thị trƣờng lao động Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng đã đề xuất ra đƣợc một số giải pháp để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực có chất lƣợng để cung cấp cho thị trƣờng lao động Việt Nam. Nguyễn Hữu Dũng, PTS. Trần Hữu Trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trong cuốc sách này tác giả đã tập trung giải quyết các chính nhằm để giải quyết việc làm cho lao động Việt Nam. Những chính sách này đã đƣợc tác giả đề cập ở tầm vi mô và vi mô. Nguyễn Thị Lan Hƣơng (2002), Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách này tác giả đã tập trung phân tích thực trạng của lao động Việt Nam.
Đó là thiếu nguồn nhân lực có chất lƣợng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Tác giả cũng đã đề cập đến tình trạng đào tạo ra nhƣng không đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp sau khi nhận lao động đã phải bỏ ra nguồn kinh phí để đào tạo lại. Để giải quyết thực trạng trên tác giả đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho thị trƣờng lao động.
Các giải pháp này cũng đã giải quyết đƣợc những vƣớng mắc mà thị trƣờng lao động ở Việt Nam đang gặp phải. - Đề tài “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (2001) do PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài. Các cộng tác viên của Luan van 5 đề tài đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lƣợng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Nhìn chung các công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, nhƣng đã đánh giá đƣợc thực trạng nguồn lao động Việt Nam hiện nay đó là thiếu nguồn lao động có tay nghề, vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam nói chung và một số địa phƣơng nói riêng.
Đồng thời cũng đã đƣa ra đƣợc các giải pháp mang tính khả thi để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Tuy nhiên chƣa có đề tài, công trình khoa học nào phân tích, đánh giá vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình dƣới dạng một luận văn khoa học kinh tế. Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã công bố, kết hợp khảo sát thực tiễn ở nông thôn huyện Quảng Trạch để phân tích, từ đó đƣa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng trên cơ sở những đƣờng lối, quan điểm, chủ trƣơng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nƣớc, của tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Trạch trong những năm tới. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN, VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Một số khái niệm a. Lao động nông thôn Lao động nông thôn là những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn, là toàn bộ hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những ngƣời sống ở nông thôn. Nguồn là lực lƣợng lao động cơ bản của hoạt động sản xuất xã hội, bao gồm những ngƣời có khả năng tham gia lao động.
Chất lƣợng nguồn lao động biểu hiện ở trình đọ văn hóa, trình độ về nghề nghiệp, trình độ về tổ chức hoạt động và sức khoe lao động. Việc làm Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận, trân trọng là ngƣời làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (Quốc doanh và tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp. Ngày nay các quan niệm về việc làm đƣợc hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra thu nhập, mà không bị pháp luật cấm.
Điều 9, chƣơng II, Bộ Luật lao động Việt Nam năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” và nhƣ vậy mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Theo quy định của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội điều 13 quy Luan van 7 định: Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Theo quan niệm trên, một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện; Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và các thành viên trong gia đình. Hai là, ngƣời lao động đƣợc tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm.
Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động đƣợc thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đƣơng thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nƣớc. Thiếu việc làm Khi nguồn lao động đƣợc huy động, sử dụng không hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập ngƣời lao động thấp. Đồng thời đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội.
Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xoá đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn. Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Ngƣời thiếu việc làm gồm những ngƣời trong tuần lễ có tổng số giờ làm việc dƣới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc ít hơn giờ quy định đối với các công việc theo quy định hiện hành của nhà nƣớc. Họ có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhƣng không có việc để làm.
Thiếu việc làm đƣợc thể hiện dƣới dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình. Thiếu việc làm vô hình là trạng thái những ngƣời có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí nhiều hơn mức bình thƣờng nhƣng thu nhập thấp. Có Luan van 8 thể nói, nguyên nhân của tình trạng này là do dân số không ngừng tăng lên trong khi diện tích đất canh tác có nguy cơ thu hẹp là dƣ thừa lao động. Số ngƣời lao động trên một đơn vị diện tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm.
Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhƣng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều. Thƣớc đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập thấp hơn mức lƣơng tối thiểu. Thiếu việc làm hữu hình là khái niệm để chỉ hiện tƣợng ngƣời lao động làm việc có thời gian ít hơn thƣờng lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc. Tình trạng thiếu việc làm hữu hình đƣợc biểu hiện bởi hàm số sử dụng thời gian lao động nhƣ sau: Số giờ làm việc thực tế K= Số giờ quy định x 100% (Tính theo ngày, tháng, năm) Về thất nghiệp Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, thất nghiệp là hiện tƣợng gồm những phần mất thu nhập, do không có khả năng tìm đƣợc việc làm trong khi họ con trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về lao động nhƣng chƣa đƣợc giải quyết.
Nhƣ vậy, những ngƣời thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lƣợng lao động hay dân số hoạt động kinh tế. Một ngƣời thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn: + Đang mong muốn và tìm việc làm + Có khả năng làm việc + Hiện đang chƣa có việc làm Với cách hiểu nhƣ thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhƣng chƣa làm việc đều đƣợc coi là thất nghiệp. Do đó, một tiêu chí quan trọng để xem xét một ngƣời đƣợc coi là thất nghiệp thì phải biết đƣợc ngƣời đó có muốn đi làm hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều ngƣời có sức khoẻ, có nghề Luan van 9 nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” nhƣ kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số ngƣời trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công nhất định. Thất nghiệp đƣợc phân thành các loại sau: + Xét về nguồn gốc thất nghiệp, có thể chia thành: Thất nghiệp tự nhiên: là loại thất nghiệp khi có một tỷ lệ nhất định số lao động ở trong tình trạng không có việc làm. Thất nghiệp tạm thời: là do thay đổi việc làm, do sự di chuyển không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc do cung cầu lao động không phù hợp. Thất nghiệp cơ cấu: là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lƣợng của nền kinh tế.