Chương 1: Khái quát chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. + Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. + Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại. 6 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH, THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thƣơng mại và Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thƣơng mại: Song song với nền kinh tế thị trường và sự hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới của nước ta trong thời gian gần đây diễn ra trong bối cảnh sự phát triển theo chiều rộng và chiều sâu của các quan hệ kinh tế với một tốc độ nhanh chóng chưa từng có. Tranh chấp trong kinh tế nói chung và trong kinh doanh nói riêng với tính cách là hệ quả tất yếu của quá trình này cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, và gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Bởi vậy, yêu cầu phải áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM).
Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là TCKDTM chủ yếu căn cứ vào các qui định của pháp luật. Tuy còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm TCKDTM, song nhiều nhà hoa học đã đưa ra khái niệm như sau: Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những bất đồng, xung đột, mâu thuẫn hay bất đồng chính kiến chủ yếu về lợi ích kinh tế, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng kinh doanh thương mại hoặc các hoạt động kinh tế khác được pháp luật qui định là tranh chấp kinh tế, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế. 7 Qua đó, chúng ta có thể hiểu TCKDTM là một dạng tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh; là những phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Đặc trưng nhất của TCKDTM là gắn liền với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp và bản chất của TCKDTM là phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên.
Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định trong Luật Thương mại năm19971. Tại Điều 238 Luật Thương mại quy định: Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại. Theo đó, nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 rất hẹp so với quan niệm quốc tế về thương mại. Hoạt động thương mại chỉ bao gồm ba nhóm: Hoạt động mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại2.
Tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 đã loại bỏ rất nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó có thể được coi là các tranh chấp thương mại. Vì vậy đã dẫn đến các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những Công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên (Công ước New York năm 1958) gây không ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập3. Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại tương đối giản đơn. Tuy nhiên, 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/1994/NĐ-CP chủ yếu liệt kê các tranh chấp được gọi là các tranh chấp kinh tế như tranh chấp về hợp đồng kinh tế, tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, thành viên công ty với nhau hoặc tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
2 Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005. Lê Hồng Hạnh, “Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập”; Tạp chí Luật học, số 2/2000. 8 khái niệm này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại. Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2015 cũng đã liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án4.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005. Điều này cho thấy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật tương đối nhất quán. Tranh chấp kinh doanh, thương mại có các loại như sau: - Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. - Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
4 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) 9 - Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi hình thức tổ chức … - Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại Tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại là hệ quả tât yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, giải quyết các tranh chấp phát sinh dược coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế. Theo hiểu biết chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng các yêu cầu: - Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh. - Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh. - Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường. - Kinh tế nhất (ít tốn kém nhất).
Sự tác động của những đặc điểm riêng biệt về phong tục, tập quán, truyền thống, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đã làm cho các cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh của các quốc gia rất khác nhau. Mặc dù vậy, căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh pháp luật có sự phân hoá đối với các hoạt động kinh doanh trong điêù kiện kinh tế thị trường, cho tới thời điểm hiện tại, các hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được áp dụng rộng rãi trên thế giới bao gồm: thương lượng, hoà giải, trọng tài (phi chính phủ) và giải quyết thông qua Toà án. Qua đó, chúng ta có thể hiểu khái niệm giải quyết TCKDTM là việc các bên tranh chấp thông qua các hình thức, thủ tục, các phương pháp cũng như các hoạt động để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ, khắc 10 phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quá trình hoạt động thương mại, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các chủ thể kinh doanh. Còn đối với giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế.
Hay nói khác đi, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giao cho Tòa án giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng gọi là Tố tụng dân sự Tòa án. Đặc điểm pháp lý và các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại theo tố tụng dân sự Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo tố tụng dân sự là một hoạt động đặc thù do pháp luật tố tụng dân sự qui định cho cơ quan Tòa án và chỉ có Tòa án mới được có đủ thẩm quyền để thực thi nhiệm vụ đó.