đặt vấn đề và phân tích về sự cần thiết của việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực Luật biển quốc tế băng các thủ tục bắt buộc, Natalie Klein đã mô tả các thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước, các vấn đề bị giới hạn hoặc các trường hợp ngoại lệ đối với các thủ tục bắt buộc dẫn đến các quyết định bắt buộc và phân tích mối tương quan giữa các quy định về nội dung và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế vào giải quyết tranh chấp Biển Đông không được tác giả đề cập trong cuốn sách. Thomas, /sland Disputes and the Law of the Sea: An Examination of Sovereignty and Delimitation Disputes, Maritime briefing IBRU Press 1998 [190]: Từ những vụ tranh chấp điển hình về chủ quyền đối với các đảo giữa một số quốc gia trên thế giới, các tác giả đã đưa ra những nhận xét/ quan điểm về đặc điểm, tinh chat của van đề tranh chap chủ quyền đối với đảo và phân định ranh giới hàng hải theo Luật biển quốc tế; từ đó đề xuất những giải pháp cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Tuy nhiên, trong toàn bộ cuốn sách, tác giả không dé cập đến việc giải quyết tranh chấp Biển Đông dưới góc độ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.
Sam Bateman and Ralf Emmers (Edited), Security and International Politics in the South China Sea: Towards a cooperative management regime, 2009 [192]: Cuốn sách đã nghiên cứu một cách toàn diện về yếu tố chính trị và sự phát triển chiến lược trong vùng Biển Đông. Cụ thé: xem xét các van đề về lich sử và dia chính trị ảnh hưởng đến tranh chấp và những nỗ lực đã được thực hiện dé giải quyết các tranh chấp; xem xét tác động của các tranh chấp đến quan hệ hợp tác và an ninh khu vực; đánh giá tâm quan trọng chiên lược của Biên Đông trong bôi cảnh của môi 10 trường an ninh khu vực hiện đại; thảo luận về sự hội tụ của các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống đang xuất hiện dé cung cấp cơ sở cho sự hợp tác ở Biển Đông. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm thiết lập một cơ chế quản lý hợp tác hiệu quả giữa các quốc gia hữu quan tại khu vực Biển Đông. Stefan Talmon and Bing Bing Jia (Edited), The South China Sea Arbitration: A Chinese Perspective, Bloomsbury Publishing 2014 [198]: Day la cuốn sách tập hợp các bài viết của các học giả luật quốc tế của Trung Quốc, Dai Loan và Châu Âu với mục đích chung là lập luận lý giải cho cách hành xử của Trung Quốc trong việc giải quyết các tranh chấp cụ thé tại Biển Đông.
Trên cơ sở đề cập trực tiếp đến các tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc tại Biển Đông, cuốn sách tập trung vào các vấn đề cơ bản về thâm quyền của Tòa trọng tài được thành lập theo phụ lục VII UNCLOS; lập luận khả năng chấp nhận và phản đối các quyết định của Tòa; va vai trò của Tòa trong việc tư van cho các bên tranh chấp dé họ có thé giải quyết tranh chấp bang biện pháp thương lượng; những lý do Trung Quốc từ chối Tuyên bố khởi kiện của Philippines. Tuy không là quan điểm chính thức của Chính phủ Trung Quốc (được tác giả nêu rõ trong phần giới thiệu của cuốn sách), nhưng có thể thấy những nội dung mà các học giả nêu ra thực chất là một sự “tự vấn” gửi tới Hội đồng trong tài được thành lập theo phụ lục VII UNCLOS về sự giải thích luật và các lập luận pháp lý đại diện cho bên vắng mặt trước vụ kiện của Philippines, phục vụ cho quan điểm của Trung Quốc về sự phản đối việc giải quyết tranh chấp biển có liên quan tại các cơ quan tài phán quốc tế. Shicun Wu, Solving Disputes for Regional Cooperation and Development in the South China Sea: A Chinese Perspective, A volume in Chandos Asian Studies Series, Copyright © 2013, Woodhead Publishing Limited [193]: với việc nhấn mạnh giải quyết tranh chấp nhằm thúc đây sự hợp tac và phat triển khu vực ở Biển Đông là vấn đề rất cần thiết trong bối cảnh các cuộc xung đột quốc tế trong khu vực này ngày càng gia tăng, cuốn sách tập trung vào thảo luận về các tranh chấp Biển Đông từ góc độ quan điểm của Trung Quốc. Nội dung chủ yếu đề cập đến những tranh chấp của Trung Quốc về chủ quyền đối với các đảo và tranh chấp hàng hải ở Biên Đông; những phân tích vê các yêu tô liên quan ảnh hưởng đên nguôn gôc và 11 sự phát triển của các tranh chấp này như yếu tổ lich sử, luật pháp, chính trị quốc tế, kinh tế, ngoại giao và quân sự; đánh giá sự phức tạp, quốc tế hóa tranh chap và những nỗ lực của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp.
Nói chung, mục đích của cuốn sách nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn quan điểm của Trung Quốc về sự phức tạp của các tranh chấp Biên Đông, bao gồm cả tranh chấp về chủ quyền đối với các dao nhỏ, chế độ pháp lý và tác động của đảo trong phân định biển, yêu sách chồng lấn của các bên và cách thức các quốc gia láng giéng có thé hợp tác dé cùng phát triển đối với tài nguyên trong vùng bién nay. Monique Chemillier Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, L’Harmattan Paris Press 1996 [171]: Chủ quyén trên hai quần dao Hoang Sa va Truong Sa là công trình nghiên cứu của hoc giả người Pháp Monique Chemillier Gendreau, nguyên bản tiếng Pháp có tên “La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” do Nhà xuất bản L’Harmattan Paris (Pháp) công bố vào tháng 3/1996. Bà Monique Chemillier Gendreau là giáo sư công pháp và khoa học chính trị tại trường Đại học Paris- VII- Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, Chủ tịch Hội Luật gia châu Âu. Bản tiếng Việt của công trình do TS.
Nguyễn Hồng Thao dịch, được Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật in nam 1998 và tái bản lần 1 năm 2011. Đây là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và độc lập của một học giả nước ngoài về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong bốn chương của cuốn sách, dưới góc độ một luật gia quốc tế, tác giả đã (i) phân tích lập luận của các bên liên quan đến cuộc tranh chấp hai quần đảo (đánh giá tính hợp lệ của các yêu sách lãnh thô của mỗi bên và quyền chiếm hữu đối với các quần đảo tranh chấp để đưa ra một giải thích pháp ly về các van dé chủ quyền); và (ii) đưa ra các kết luận và các cơ sở cho việc giải quyết những tranh chấp phức tap nay dựa vào cơ chế giải quyét tranh chấp trong luật quốc tế mà đặc biệt là UNCLOS 1982. Theo Monique Chemillier Gendreau, Việt Nam là nước có tuyên bố mạnh mẽ nhất đối với trường hợp của quần đảo Hoàng Sa; việc sử dụng vũ lực chiếm đóng bat hợp pháp của Trung Quốc đối với quan đảo này là hoàn toàn trái pháp luật quốc tế, không thé tạo ra danh nghĩa chủ quyên.
Đối với quần đảo Trường Sa, 12 Monique cho răng có vẻ phức tạp hơn. Tác giả nhận định trường hợp của Trung Quốc: "thật đơn giản nhận thấy những yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo Trường Sa không có cơ sở pháp lý và chỉ là một yếu tố của một chính sách bành trướng trên biển" [71, tr. Về triển vọng giải quyết, tác giả đã nêu ra khả năng của một giải pháp pháp lý sau khi đánh giá tính khách quan của Hội đồng Bảo an trong giải quyết tranh chấp và khi “triển vọng giải quyết tranh chấp qua các cuộc đàm phán hầu như băng không”. Tuy nhiên, bà cũng lại chỉ ra giải pháp này hiện tại mang tính đo tưởng vì Trung Quốc chưa bao giờ có ý định sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế như ICJ hay ITLOS để giải quyết tranh chấp liên quan tới mình dù họ luôn có một thâm phán tại các cơ quan này.
Cuối cùng, tác giả kết luận “tong lai thuộc về các giải pháp có tính đến sự phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng con đường dẫn tới đó chính là con đường dam phan thật lòng chứ không phải la con đường tương quan lực lượng ” [71, tr. Guo Rongxing, Territorial Disputes and seabed petroleum xploitation: some options for the East China sea, The Brookings Isntitution, Centre for Northeast Asian policy studies, 2010 [137]: Day là bài viết của giáo su Guo Rongxing, Dai học Bắc Kinh phân tích các van dé và chính sách quan trọng liên quan đến việc quản lý khai thác dầu khí ở đáy đại dương và các khu vực tranh chấp. Tác giả đã xác định một số nguyên tắc và quy tắc khai thác dầu khí xuyên quốc gia và phân loại thành năm mô hình phát triển các thỏa thuận quốc tế và điều ước quốc tế liên quan đến việc khai thác tại các khu vực tranh chấp khác nhau trên toàn thế giới.
Trên cơ sở phân tích chi phi, loi ích của việc khai thác dầu khí dưới đáy biến, các mô hình phát triển khác nhau được đề xuất để phù hợp với các khu vực khác nhau của Biển Đông; đồng thời đề xuất lựa chọn một số chính sách cho việc hợp tác song phương hoặc đa phương về việc thăm dò, khai thác và vận chuyển mỏ dầu khí dưới đáy biển ở Biên Đông. Nong Hong, UNCLOS and Ocean Dispute Settlement: Law and Politics in the South China Sea, Simultancously published in the USA and Canada by Routledge, 2012 [173]: Cuốn sách cung cấp các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến 13 tranh chấp Biên Đông, bao gồm ca địa chính trị, lịch sử, quân sự, an ninh, cũng như các yêu sách, lợi ích của các bên liên quan đến việc tranh chấp và sự phát triển những yếu tố gia tăng căng thắng trong tình hình gần đây của Biển Đông kê từ năm 2009: đánh giá về cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS và khả năng áp dụng UNCLOS đối với các tranh chấp ở khu vực Biên Đông. Theo đó, tác giả của cuốn sách cho rằng vị trí, chế độ pháp lý của đảo là vấn đề cốt lõi, cội nguồn của các tranh chấp ở Biển Đông; phân chia tranh chấp thành các loại: tranh chấp về chủ quyền đối với các đảo, vùng biển được tao ra bởi các đảo và tranh chấp về phân định biển giữa các quốc gia.