Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13) với đề tài "Quan hệ giữa các tỉnh biên giới Đông Nam Bộ Việt Nam với các tỉnh giáp biên Campuchia từ năm 1991 đến năm 2015" do nghiên cứu sinh Lý Văn Ngoan thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Phụng Hoàng.

                    QUAN HỆ BIÊN GIỚI ĐÔNG NAM BỘ - CAMPUCHIA (1991 - 2015)
  CƠ SỞ HÌNH THÀNH             THỰC TRẠNG QUAN HỆ            ĐÁNH GIÁ & BÀI HỌC
  - Địa lý, tự nhiên           - Đối ngoại địa phương        - 4 đặc điểm nổi bật
  - Lịch sử liên minh          - Kinh tế & mậu dịch biên     - Thành tựu hợp tác
  - Quốc phòng - an ninh       - An ninh & cắm mốc           - Tồn tại, hạn chế
  - Kinh tế & văn hóa          - Văn hóa, dân cư biên giới   - Bài học kinh nghiệm

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Toàn tuyến biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Campuchia có chiều dài khoảng 1.137 km, đi qua 10 tỉnh của Việt Nam và 9 tỉnh của Campuchia. Trong cấu trúc không gian đó, khu vực Đông Nam Bộ (Việt Nam) có hai tỉnh biên giới là Tây Ninh và Bình Phước tiếp giáp trực tiếp với năm tỉnh của Campuchia gồm: Kratie, Mondulkiri, Tbong Khmum (trước năm 2013 thuộc tỉnh Kampong Cham), Prey Veng và Svay Rieng, với tổng chiều dài đường biên giới quản lý thực tế là 592,977 km (trong đó đoạn biên giới phân định cụ thể được khảo sát chi tiết khoảng 480,43 km).

Mối quan hệ song phương giữa các địa phương giáp biên giữ vai trò cụ thể hóa và thực thi đường lối đối ngoại của hai quốc gia ở cấp cơ sở. Tuy nhiên, các công trình trước đây phần lớn tập trung nghiên cứu quan hệ ngoại giao cấp nhà nước hoặc khảo sát chung trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có một công trình khoa học lịch sử chuyên biệt nào phục dựng có hệ thống, toàn diện và sâu sắc thực trạng quan hệ giữa hai tỉnh Tây Ninh, Bình Phước với 5 tỉnh giáp biên Campuchia trên tất cả các lĩnh vực (đối ngoại, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội) trong giai đoạn bản lề 1991 - 2015.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm rõ các nhân tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, bối cảnh lịch sử, an ninh - quốc phòng và kinh tế làm cơ sở nền tảng, khẳng định quan hệ hợp tác giữa các tỉnh giáp biên hai bên xuất phát từ nhu cầu khách quan.
  2. Tái hiện và phân tích toàn diện thực trạng quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh biên giới Đông Nam Bộ và năm tỉnh đối diện của Campuchia từ năm 1991 đến năm 2015 trên các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế - thương mại, quốc phòng - an ninh, phân giới cắm mốc và văn hóa - xã hội.
  3. Rút ra các đặc điểm, bài học kinh nghiệm nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho chính quyền địa phương và các cơ quan trung ương tham khảo trong hoạch định chính sách đối ngoại, phát triển kinh tế - xã hội biên giới.
  4. Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử địa phương phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử vùng Đông Nam Bộ và lịch sử quan hệ quốc tế Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Phân tích các nhân tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội tác động đến sự hình thành và phát triển của quan hệ giữa các tỉnh giáp biên hai nước.
  2. Khảo sát, phân tích quá trình triển khai và thực trạng quan hệ hợp tác giữa Tây Ninh, Bình Phước với 5 tỉnh biên giới Campuchia từ năm 1991 đến năm 2015.
  3. Đánh giá thành tựu, hạn chế, chỉ ra đặc điểm và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn hợp tác giai đoạn này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh biên giới Đông Nam Bộ Việt Nam (Tây Ninh, Bình Phước) với năm tỉnh giáp biên của Campuchia (Svay Rieng, Prey Veng, Tbong Khmum, Kratie, Mondulkiri) trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh và văn hóa - xã hội.
  • Phạm vi không gian: Không gian hành chính của 2 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước (giai đoạn trước ngày 01/01/1997 là tỉnh Sông Bé) và 5 tỉnh biên giới Campuchia; đồng thời mở rộng liên hệ đến toàn vùng Đông Nam Bộ và khu vực phía Đông Campuchia.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2015. Năm 1991 gắn với sự kiện kết thúc trật tự thế giới hai cực Ianta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris về Campuchia. Năm 2015 đánh dấu chặng đường 25 năm phát triển quan hệ song phương sau mốc 1991. Luận án có mở rộng khảo sát bối cảnh lịch sử giai đoạn trước 1991 và diễn tiến sau năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận một khối lượng lớn công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

                          TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
NHÓM 1: CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ      NHÓM 2: KINH TẾ - XÃ HỘI       NHÓM 3: ĐỊA PHƯƠNG
- Tác giả trong nước             - Nghiên cứu thương mại         - Lịch sử Tây Ninh
  (Phạm Việt Trung, Hoàng Văn      biên giới (Lê Hương,           (Huỳnh Minh, Đảng
  Thái, Trần Xuân Hiệp, Viện       Doãn Kế Bôn, Nguyễn            bộ tỉnh Tây Ninh)
  Sử học, Lê Đình Chỉnh...)        Xuân Thiên...)                - Địa chí Bình Phước
- Tác giả quốc tế                - Nghiên cứu văn hóa -           (UBND tỉnh Bình
  (W. Burchett, Camaphon,          dân tộc (Phan An, Trần         Phước, Sông Bé)
  Roy Rasmey, Sok Dareth,          Hồng Liên, Nguyễn Sỹ
  Chhouet Sopheak, Thearith Leng)  Tuấn...)

Các nhóm công trình nghiên cứu trước đây

  • Nhóm nghiên cứu về quan hệ chính trị, an ninh - quốc phòng Việt Nam - Campuchia:
    • Tác giả trong nước: Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung (1982, Lịch sử Campuchia); Hoàng Văn Thái (1983, Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia); Kỷ yếu Hội thảo Khoa học (2007, Quan hệ Việt Nam - Campuchia trong bối cảnh mới: Hợp tác toàn diện cùng phát triển); Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (2009, Vùng biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia: Cơ sở lịch sử, chính trị, xã hội, pháp lý và các giải pháp phát triển bền vững, hài hòa); Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao (2010, Biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia); Trần Xuân Hiệp (2014, Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau chiến tranh lạnh đến nay); Lê Trung Dũng (2014, đề tài Quỹ NAFOSTED về quá trình hình thành đường biên giới trên bộ); NXB Văn hóa - Thông tin (2014, Chiến thắng biên giới Tây - Nam Việt Nam và dấu ấn Quân tình nguyện Việt Nam đối với cách mạng Campuchia); Viện Sử học do Trần Đức Cường chủ biên (2017, Lịch sử Việt Nam tập 14); Lê Đình Chỉnh chủ biên (2021, Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Campuchia (1930 – 2020)).
    • Tác giả nước ngoài: Uyn Phrết Bớc-sét / Wilfred Burchett (1981, Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam); Camaphon (2003, Cambodia - Vietnam Political Relations 1979 - 1989); Roy Rasmey (2005, đề tài về mâu thuẫn giữa các đảng phái chính trị ở Campuchia và tác động đến quan hệ song phương); Sok Dareth (2008, Chính sách của Vương quốc Campuchia đối với Việt Nam từ 1993 đến nay); Chhouet Sopheak (2009, Hợp tác Campuchia – Việt Nam từ năm 1993 đến nay); Sun Sothiarat (2010, Đường lối phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống Campuchia - Việt Nam từ 1998 đến nay); Thearith Leng (2018, luận án tiến sĩ tại Đại học New South Wales về ngoại giao của nước nhỏ trong chính sách đối ngoại của Campuchia với Việt Nam).
  • Nhóm nghiên cứu về kinh tế, văn hóa - xã hội và vùng biên giới:
    • Lĩnh vực kinh tế và mậu dịch biên giới: Lê Hương (1969, Chợ trời biên giới Việt Nam Cao Miên); Doãn Kế Bôn (2002, công trình về giải pháp phát triển thương mại hàng hóa qua biên giới đất liền đến năm 2005); Lê Thị Ái Lâm (2006, thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Campuchia); Nguyễn Thanh Đức (2008, nhân tố kinh tế trong quan hệ song phương); Lê Thị Hồng (2008, quan hệ hợp tác kinh tế giai đoạn 1979 - 2007); Viện Nghiên cứu Đông Nam Á do Nguyễn Thế Hà chủ nhiệm (2010); Báo cáo của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (2013, khảo sát năng lực hội nhập của 10 tỉnh tiếp giáp Campuchia); Nguyễn Xuân Thiên chủ biên (2018, Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia thực trạng và triển vọng).
    • Lĩnh vực văn hóa, dân tộc và xã hội: Phạm Đức Thành và Vũ Công Quý (2009, nghiên cứu khía cạnh dân tộc, tôn giáo, văn hóa trong Tam giác phát triển CLV); Nguyễn Sỹ Tuấn (2010, đề tài cấp Nhà nước về cơ sở lịch sử, văn hóa, chính trị, pháp lý vùng biên giới); Trần Hồng Liên (2010, các bài viết về giao lưu văn hóa Phật giáo vùng biên); Phan An (2010, quan hệ tộc người hai bên biên giới quốc gia); các bài báo khoa học của Lê Minh Điển (2009), Nguyễn Văn Hà (2010), Nguyễn Hồng Nhung (2010), Quách Thị Cúc (2010).
  • Nhóm nghiên cứu về địa phương Tây Ninh, Bình Phước: Huỳnh Minh (2001, Tây Ninh xưa); các bộ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Địa chí Bình Phước, Địa chí Tây Ninh.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trên chủ yếu tiếp cận ở quy mô quốc gia hoặc phân tích riêng lẻ từng vấn đề kinh tế, tôn giáo, phân giới cắm mốc. Luận án của Lý Văn Ngoan tập trung giải quyết trọn vẹn khoảng trống: nghiên cứu quan hệ quốc tế song phương ở cấp độ địa phương giữa hai tỉnh biên giới Đông Nam Bộ với năm tỉnh giáp biên Campuchia giai đoạn 1991 - 2015, phục dựng hệ thống tư liệu địa phương và đánh giá toàn diện các mặt quan hệ từ cơ sở hình thành đến thực trạng và bài học kinh nghiệm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và cách tiếp cận

  • Cách tiếp cận: Tiếp cận lịch sử quan hệ quốc tế song phương ở cấp độ địa phương, đặt mối quan hệ giữa các tỉnh biên giới trong chỉnh thể quan hệ đối ngoại chung giữa hai nhà nước Việt Nam và Campuchia.
  • Hệ thống khái niệm sử dụng:
    • Biên giới quốc gia: Được định nghĩa theo Luật Biên giới quốc gia năm 2003 của Việt Nam, là đường và mặt thẳng đứng xác định giới hạn lãnh thổ.
    • Khu vực biên giới: Theo Nghị định số 34/2014/NĐ-CP, là khu vực gồm các xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với đường biên giới quốc gia trên đất liền. Địa bàn nghiên cứu gồm 8 huyện, 35 xã biên giới phía Việt Nam (Tây Ninh và Bình Phước) và 11 huyện, 28 xã của 5 tỉnh Campuchia.
    • Loại hình khu vực biên giới: Vành đai biên giới; hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền (cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo Nghị định số 32/2005/NĐ-CP và Nghị định 112/2014/NĐ-CP); chợ biên giới (Nghị định 23/2009/NĐ-CP).
    • Cư dân biên giới: Công dân có hộ khẩu thường trú tại các đơn vị hành chính cấp xã giáp đường biên giới đất liền (tổng cộng 63 xã biên giới của 7 tỉnh với 378.458 người).
    • Quan hệ xuyên biên giới: Tiếp cận theo quan điểm "biên giới cứng" (qua lại truyền thống) và "biên giới mềm" (hợp tác đa dạng về kinh tế, dân cư, môi trường theo phân tích của Ricq Charles, 2006 và Nguyễn Thanh Lan, 2015).
    • Quan hệ thương mại biên giới: Hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới theo hiệp định song phương, bao gồm chính sách miễn thuế mua bán trao đổi của cư dân biên giới (hạn mức quy định không quá 2.000.000 đồng/người/ngày theo Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
    • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Phục dựng tiến trình lịch sử, sự kiện theo thời gian, phân tích bản chất, quy luật vận động và xu hướng phát triển của mối quan hệ.
    • Phương pháp định tính và phương pháp định lượng: Thu thập, xử lý, thống kê, lập biểu bảng so sánh các số liệu về diện tích, dân số, kim ngạch thương mại, số lượng doanh nghiệp đầu tư, số vụ việc an ninh, tiến độ cắm mốc.
    • Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Vận dụng để phân tích quan hệ ngoại giao cấp địa phương và tác động qua lại giữa các chủ thể vùng biên.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Văn kiện chính thức: Nghị quyết, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam; hiệp ước, hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Campuchia (từ thời kỳ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia đến nay).
  • Tư liệu lưu trữ địa phương: Biên bản hội đàm, bản ghi nhớ ký kết hợp tác định kỳ; báo cáo sơ kết, tổng kết công tác đối ngoại, an ninh biên giới, thương mại của Tỉnh ủy, UBND, Sở Ngoại vụ, Sở Công Thương, Sở Thương mại và Du lịch của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước; báo cáo của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Ban Biên giới hai tỉnh.
  • Tài liệu xuất bản và khảo sát: Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, dữ liệu thống kê từ Viện Thống kê Quốc gia Campuchia (National Institute of Statistics of Cambodia), Tổng cục Thống kê Việt Nam, số liệu điền dã khảo sát dân tộc học tại xã Tân Đông (Tân Biên, Tây Ninh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này dành 31 trang để phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm vấn đề chính (chính trị - quân sự, kinh tế - xã hội, địa phương). Tác giả chỉ ra các thành tựu mà học giới đã đạt được, đồng thời xác lập 4 vấn đề cụ thể mà luận án cần giải quyết:

  1. Phân tích các tiền đề tự nhiên, dân cư, kinh tế, quốc phòng hình thành mối quan hệ.
  2. Tái hiện thực trạng quan hệ 1991 - 2015 trên 4 lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội.
  3. Tổng hợp, đánh giá thành tựu và hạn chế của quan hệ hai bên.
  4. Đề xuất các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.

Chương 2: Cơ sở hình thành mối quan hệ hợp tác giữa các tỉnh biên giới Đông Nam Bộ Việt Nam với các tỉnh giáp biên Campuchia

Tác giả phân tích sâu sắc các yếu tố nền tảng cấu thành mối quan hệ hợp tác:

  • Cơ sở vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước cùng 5 tỉnh biên giới Campuchia nằm trên một không gian tiếp giáp thống nhất giữa Đông Nam Bộ và miền Đông Campuchia với tổng diện tích 49.399 km² (phía Việt Nam chiếm 10.918 km², 5 tỉnh Campuchia chiếm 38.481 km²; phía Campuchia rộng gấp 3,5 lần nhưng mật độ dân số thấp hơn đáng kể).
Địa phương Diện tích (km²) Dân số (người) Mật độ dân số (người/km²) Chiều dài biên giới tiếp giáp
Tây Ninh 4.035,45 - 4.041,00 1.088.891 (2012) 270 220 km (hoặc 240 km tùy mốc tính)
Bình Phước 6.844,00 - 6.877,00 905.300 (2011) 132 258,939 km - 260,43 km
Svay Rieng 2.165,00 - 2.966,00 524.609 (2019) 167,9 - 289,3 184 km (giáp Tây Ninh)
Prey Veng 4.883,00 1.057.428 216,5 55 km (giáp Tây Ninh)
Tbong Khmum 9.356,00 (cũ) 1.679.690 (2008 cũ) - 62 km (giáp Tây Ninh, Bình Phước)
Kratie 11.094,00 372.825 ~33,6 Giáp Bình Phước
Mondulkiri 14.288,00 88.649 6,2 Giáp Bình Phước

Đặc điểm địa hình có sự chuyển tiếp từ cao nguyên đồi núi thấp (Mondulkiri, Kratie, Bình Phước, Bắc Tây Ninh) xuống đồng bằng trũng bằng phẳng (Prey Veng, Svay Rieng, Nam Tây Ninh). Vùng này có tuyến Đường Xuyên Á (Quốc lộ 22 qua cửa khẩu Mộc Bài dài 28 km) và Quốc lộ 22B (qua cửa khẩu Xa Mát dài 70 km) kết nối TP. Hồ Chí Minh với Phnom Penh. Tuyến biên giới hai tỉnh có 3 cửa khẩu quốc tế (Mộc Bài, Xa Mát, Hoa Lư), 5 cửa khẩu chính, 12 cặp cửa khẩu phụ.

  • Cơ sở lịch sử:
    • Thời phong kiến: Tên gọi Tây Ninh xuất hiện năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17, gồm 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa); vùng đất Bình Phước thuộc phủ Phước Long (đặt thêm huyện Phước Bình năm 1838). Diễn ra các cuộc khởi nghĩa liên minh Việt - Miên chống Pháp tiêu biểu như khởi nghĩa Trương Quyền - Pu Kom Pô (1864) và khởi nghĩa Điểu Dố (1908).
    • Thời kỳ 1945 - 1954: Thành lập đơn vị bộ đội hải ngoại, hình thành đơn vị Sivotha (tháng 10/1948) hoạt động liên hoàn vùng Đông Bắc Campuchia và Đông Nam Bộ; Trung đoàn 311 do Nguyễn Văn Dung và Trần Văn Đẩu chỉ huy phối hợp với bộ đội Achachiu.
    • Thời kỳ 1954 - 1975: Tây Ninh và Bình Phước là căn cứ đầu não của Cách mạng miền Nam: Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh), Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Bộ Chỉ huy Miền tại Tà Thiết - Lộc Ninh (Bình Phước), bảo đảm tuyến Đường Trường Sơn đoạn Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ.
    • Giai đoạn 1975 - 1991: Giai đoạn 1975 - 1978 xảy ra 17 vụ xung đột vũ trang do quân Khmer Đỏ gây ra ở biên giới Tây Ninh (Lò Gò, Tà Nông, Chàng Riệc), lấn chiếm hơn 132 ha đất tại Tân Biên, Châu Thành, Bến Cầu. Chính quyền Tây Ninh đã tổ chức tiếp xúc 49 lần ở cấp đồn biên phòng, 3 lần cấp huyện, 1 lần cấp tỉnh, 2 lần cấp khu nhằm giữ hòa bình nhưng không thành công trước sự khiêu khích của Khmer Đỏ. Sau năm 1979, hai tỉnh hỗ trợ nước bạn tái thiết và bảo vệ an ninh biên giới.
  • Cơ sở an ninh - quốc phòng, kinh tế và văn hóa - xã hội: Nhu cầu phối hợp bảo vệ an ninh biên giới, phòng chống tội phạm; tính bổ trợ kinh tế giữa các vùng đất rộng của Campuchia với nguồn vốn, kỹ thuật sản xuất của Đông Nam Bộ; sự tương đồng văn hóa và liên kết tộc người Khmer, Chăm, Xtiêng sinh sống dọc hai bên đường biên.

Chương 3: Thực trạng mối quan hệ giữa các tỉnh biên giới Đông Nam Bộ Việt Nam với các tỉnh giáp biên Campuchia từ 1991 đến 2015

Chương 3 trình bày các hoạt động hợp tác cụ thể trên từng lĩnh vực:

  • Quan hệ đối ngoại địa phương: Thiết lập cơ chế họp giao ban định kỳ, ký kết biên bản hợp tác thường niên giữa UBND tỉnh Tây Ninh, Bình Phước với Tòa Thị chính/Ban Hành chính 5 tỉnh đối diện; phối hợp giải quyết các sự vụ nảy sinh trên biên giới.
  • Quan hệ kinh tế và hạ tầng giao thông vận tải:
    • Thương mại biên giới: Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa diễn ra sôi động qua hệ thống cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát, Hoa Lư, Hoàng Diệu, Tân Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm phân bón, sắt thép, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng; nhập khẩu gỗ, nông sản (sắn/mì, hạt điều, mủ cao su).
    • Hợp tác đầu tư nông nghiệp: Doanh nghiệp và cá nhân tỉnh Tây Ninh, Bình Phước sang thuê đất tại Svay Rieng, Tbong Khmum, Kratie, Mondulkiri để trồng trọt nông sản, cây công nghiệp (cao su, khoai mì, mía đường) theo các hợp đồng kinh tế.
    • Giao thông vận tải: Phối hợp thi công, nâng cấp các tuyến đường kết nối cửa khẩu (công văn tỉnh Svay Rieng thông báo xây dựng hạ tầng cửa khẩu Mộc Bài - Bavet năm 2007).
  • Lĩnh vực quốc phòng - an ninh, phòng chống tội phạm và phân giới cắm mốc:
    • An ninh trật tự: Trao đổi thông tin nghiệp vụ định kỳ giữa Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Tây Ninh, Bình Phước với các Tiểu khu Quân sự, Ty Công an 5 tỉnh bạn; tổ chức tuần tra song phương bảo vệ đường biên; đấu tranh ngăn chặn buôn lậu, mua bán ma túy, buôn bán người và di cư trái phép.
    • Giải quyết xâm canh, xâm cư: Phối hợp khảo sát hiện trạng, vận động nhân dân ổn định đời sống, không lấn chiếm đất đai qua lại đường biên giới (giai đoạn 1991 - 2005).
    • Công tác phân giới cắm mốc (PGCM): Khởi động mạnh mẽ từ năm 2006. Ngày 27/9/2006, tổ chức khánh thành cột mốc số 171 tại Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài - Bavet. Trên tuyến Tây Ninh hoàn thành xác định và cắm 109 cột mốc chính; tuyến Bình Phước xác định 29 cột mốc chính trên thực địa.
  • Quan hệ văn hóa - xã hội và cư dân biên giới:
    • Giao lưu dân tộc, tôn giáo của đồng bào Khmer, Xtiêng, Chăm; duy trì mối liên hệ thân tộc, dòng họ liên quốc gia (qua các nghiên cứu thực địa điển hình như trường hợp gia đình ông Pơy Mit tại ấp Ka Ốt, xã Tân Đông, Tân Biên và quan hệ họ hàng của anh Sưk K).
    • Công tác tương trợ xã hội: Hỗ trợ rà phá bom mìn (như tỉnh Tây Ninh hỗ trợ huyện Svay Tiep, tỉnh Svay Rieng rà phá bom mìn tại nông trường Prey Ta y các năm 2003, 2007); hợp tác khám chữa bệnh nhân đạo, cứu trợ thiên tai; đào tạo lưu học sinh Campuchia tại các cơ sở giáo dục Việt Nam.

Chương 4: Nhận xét, đánh giá mối quan hệ giữa các tỉnh biên giới Đông Nam Bộ Việt Nam với các tỉnh giáp biên Campuchia từ 1991 đến 2015

  • Đặc điểm mối quan hệ:
    1. Mối quan hệ mang tính toàn diện, diễn ra đồng thời trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội.
    2. Vừa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ hai nước, vừa mang tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cấp địa phương.
    3. Quan hệ kinh tế - thương mại gắn chặt với yếu tố an ninh, quốc phòng và ổn định đường biên.
    4. Mối quan hệ gắn bó hữu cơ với sinh hoạt cộng đồng tộc người và cư dân vùng giáp biên.
  • Thành tựu và hạn chế:
    • Thành tựu nổi bật: Duy trì đường biên giới hòa bình, hữu nghị; hoàn thành khối lượng lớn công tác phân giới cắm mốc trên thực địa; kinh ngạch thương mại biên giới tăng trưởng liên tục; hình thành các khu kinh tế cửa khẩu năng động; tăng cường khối đoàn kết cư dân hai bên.
    • Tồn tại, hạn chế: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật cửa khẩu và giao thông kết nối chưa đồng bộ; tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và tội phạm xuyên quốc gia còn diễn biến phức tạp; sự chênh lệch về trình độ phát triển và chính sách quản lý kinh tế biên giới giữa hai bên; nguồn lực đầu tư cho văn hóa - giáo dục vùng biên còn hạn chế.
  • Bài học kinh nghiệm:
    1. Phải luôn quán triệt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hữu nghị của Đảng và Nhà nước, kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại nhà nước với ngoại giao nhân dân.
    2. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội vùng biên với củng cố quốc phòng - an ninh vững chắc.
    3. Chủ động xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên, kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh từ cấp cơ sở.
    4. Tôn trọng phong tục tập quán, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực biên giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học lý luận

  • Phân tích một cách hệ thống và toàn diện các nhân tố địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử hình thành nên quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh biên giới miền Đông Nam Bộ với các địa phương giáp biên Campuchia, khẳng định mối quan hệ này bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của cả hai bên.
  • Làm sáng tỏ thực trạng hợp tác giai đoạn 1991 - 2015 trên cơ sở khung lý thuyết về quan hệ quốc tế cấp địa phương và khái niệm biên giới mở ("biên giới mềm").
  • Sưu tầm, thẩm định và hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử địa phương phong phú từ các báo cáo nghiệp vụ của chính quyền hai tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, lực lượng Bộ đội Biên phòng và tư liệu thực địa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm và luận cứ thực tiễn phục vụ các cấp lãnh đạo địa phương, ban ngành đối ngoại và Chính phủ trong việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế cửa khẩu, chính sách an ninh biên giới và hiệp định thương mại song phương.
  • Cung cấp tư liệu giáo dục truyền thống hữu nghị đoàn kết cho thế hệ trẻ và cư dân vùng biên giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nguồn tư liệu:
    • Một số tài liệu chuyên sâu thuộc diện quản lý nghiệp vụ mật của lực lượng Bộ đội Biên phòng khó tiếp cận toàn diện.
    • Tài liệu lưu trữ cấp tỉnh ở một số năm giai đoạn đầu (thập niên 1990) thiếu tính liên tục do việc chia tách địa giới hành chính (tái lập tỉnh Bình Phước từ tỉnh Sông Bé năm 1997).
    • Nguồn dữ liệu thành văn về mảng giao lưu văn hóa - xã hội của cư dân biên giới trong các báo cáo hành chính còn ít, chủ yếu dựa trên điền dã và khảo sát chọn mẫu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khảo sát sâu hơn các biến động kinh tế - xã hội biên giới giai đoạn sau năm 2015, mở rộng nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại tự do khu vực và cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong đối với tuyến biên giới Đông Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu khoa học và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Đông Nam Á học và Lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng cho Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương, Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Công Thương, Tỉnh ủy và UBND các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước trong xây dựng chính sách quản lý biên giới và phát triển kinh tế mậu dịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Đường biên giới đất liền giữa hai tỉnh Đông Nam Bộ với Campuchia dài bao nhiêu và đi qua các tỉnh nào của hai nước?
Toàn tuyến biên giới qua hai tỉnh Đông Nam Bộ có tổng chiều dài quản lý là 592,977 km (đoạn phân định chi tiết khoảng 480,43 km, trong đó Tây Ninh dài khoảng 220 - 240 km, Bình Phước dài khoảng 258,939 - 260,43 km). Tuyến biên giới này đi qua 2 tỉnh Việt Nam (Tây Ninh, Bình Phước) và tiếp giáp 5 tỉnh Campuchia gồm: Kratie, Mondulkiri, Tbong Khmum, Prey Veng và Svay Rieng.

2. Mốc thời gian năm 1991 và năm 2015 có ý nghĩa lịch sử như thế nào đối với phạm vi nghiên cứu của luận án?
Năm 1991 là mốc kết thúc trật tự hai cực Ianta, Việt Nam tổ chức Đại hội Đảng lần thứ VII mở đầu thời kỳ đẩy mạnh đổi mới đối ngoại, và Hiệp định Hòa bình Paris về Campuchia được ký kết mở ra giai đoạn hòa giải dân tộc tại Campuchia. Năm 2015 là mốc đánh dấu 25 năm phát triển quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước kể từ năm 1991.

3. Hoạt động phân giới cắm mốc trên thực địa tại hai tỉnh đạt kết quả cụ thể nào trong giai đoạn 2006 - 2015?
Ngày 27/9/2006, hai nước tổ chức khánh thành cột mốc số 171 tại Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài - Bavet. Tính đến năm 2015, hai bên đã hoàn thành xác định và cắm 137 cột mốc chính trên toàn tuyến của hai tỉnh (tỉnh Tây Ninh hoàn thành cắm 109 cột mốc chính, tỉnh Bình Phước hoàn thành cắm 29 cột mốc chính).

4. Khái niệm "cư dân biên giới" trong địa bàn nghiên cứu gồm những đơn vị hành chính nào?
Cư dân biên giới trong phạm vi đề tài là công dân cư trú tại 63 xã biên giới của 7 tỉnh hai bên (phía Việt Nam có 35 xã thuộc 8 huyện của Tây Ninh và Bình Phước; phía Campuchia có 28 xã thuộc 11 huyện của 5 tỉnh giáp biên), với tổng dân số ghi nhận là 378.458 người (Việt Nam có 263.754 người, Campuchia có 114.704 người).

5. Vì sao điều kiện tự nhiên của tỉnh Tây Ninh thuận lợi hơn tỉnh Bình Phước trong việc mở cửa khẩu và phát triển thương mại biên giới?
Tỉnh Tây Ninh có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, có các tuyến đường huyết mạch như Đường Xuyên Á (Quốc lộ 22) và Quốc lộ 22B kết nối thẳng từ TP. Hồ Chí Minh sang Phnom Penh và các tỉnh bạn. Ngược lại, đường biên giới tỉnh Bình Phước có tới 232,624 km chạy dọc theo sông suối tự nhiên và địa hình đồi núi cao nguyên, chỉ có 27,809 km biên giới trên đất liền bằng phẳng, gây nhiều trở ngại cho việc xây dựng hạ tầng giao thông và mạng lưới cửa khẩu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lý Văn Ngoan là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo đầu tiên phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống tiến trình quan hệ giữa hai tỉnh Tây Ninh, Bình Phước với 5 tỉnh giáp biên Campuchia giai đoạn 1991 - 2015. Bằng phương pháp sử học kết hợp các dữ liệu định tính và định lượng, tác giả đã làm rõ các cơ sở tự nhiên, lịch sử, kinh tế, an ninh của mối quan hệ, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng hợp tác trên các lĩnh vực đối ngoại, thương mại mậu dịch, bảo vệ an ninh và phân giới cắm mốc. Các thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình mang lại giá trị khoa học vững chắc và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác đối ngoại và phát triển bền vững khu vực biên giới Tây Nam của Tổ quốc.