CHƯƠNG 1 - Như vậy qua phân tích ở trên địa chất khu vực huyện Cần Giờ chủ yếu là trầm tích Đệ Tứ (Holocen – QIV), có nguồn gốc sông biển hỗn hợp (am) hoặc sông – biển – đầm lầy (amb). Chiều sâu lớp đất yếu dày trung bình khoảng 20 m, là lớp bùn sét trạng thái chảy, bề dày lớn, lớp đất này đang trong quá trình cố kết nên hệ số rỗng Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 14 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS. Nguyễn Văn Hùng lớn, tính nén lún cao và cường độ chịu lực thấp. Do đó ảnh hưởng đến độ ổn định của công trình, gây hiện tượng lún và lún không đều.
- Dựa vào quy hoạch và đặc điểm khai thác các tuyến đường tác giả kiến nghị đi vào nghiên cứu và tính toán các tuyến đường có cấp kỹ thuật cấp I (với bề rộng nền đường là 30m) và cấp kỹ thuật cấp IV (với bề rộng nền đường là 9m), chiều cao đắp trung bình là 2m. Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 15 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS. Nguyễn Văn Hùng CHƯƠNG 2: CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ KHI XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU 2. CÁC GIẢI PHÁP KHÔNG CẢI THIỆN NỀN ĐẤT YẾU TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG Đây là các giải pháp thường được sử dụng.
Khi áp dụng các biện pháp này phải nhằm đạt được hai mục tiêu: - Đảm bảo sự ổn định của nền đắp đầu cầu trong khi xây dựng. - Đạt được một tốc độ lún phù hợp với thời gian thi công. Khi áp dụng các biện pháp này yêu cầu lớp trên nền đất yếu phải tiếp xúc với một lớp vật liệu chống thấm nước tốt. Nếu vật liệu đắp nền đường là đất dính thì phải làm một lớp đệm cát có chiều dày từ 0.5m đến 1m để tăng nhanh thời gian cố kết.
Đắp nền theo giai đoạn Khi cường độ ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường ổn định cần áp dụng biện pháp tăng dần cường độ của nó bằng cách đắp đất từng lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu tải tăng lên, có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn thì mới đắp lớp đất tiếp theo. Đắp trực tiếp trên đất yếu chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đất đắp (bao gồm cả phần đắp dự phòng lún) ≤ chiều cao đắp giới hạn Hgh. Do vậy để áp dụng được giải pháp này phải tính dự báo độ lún tổng cộng và phải xác định được Hgh tùy thuộc vào sức chống cắt ban đầu và bề dày tầng đất yếu. Để xác định Hgh một cách nhanh chóng ngoài việc sử dụng các chương trình tính toán ổn định đã được lập sẵn như Geo - Slope … rất nhiều các tác giả đã tính và lập sẵn các toán đồ tiện dụng để tra Hgh tùy theo các yếu tố nói trên (toán đồ Taylor, Madel Salencom …).
Rõ ràng khi chiều cao đất đắp cao và độ lún lớn thì không thể đắp trực tiếp được. Đắp dần theo giai đoạn (vừa đắp vừa chờ) là lợi dụng tối đa quãng thời gian thi công cho phép để tăng chiều cao đất đắp trực tiếp lên trị số Hgh. Theo cách này đất đắp đến Hgh gọi là giai đoạn I, tiếp đó duy trì tải trọng đắp trong một thời gian t1 nhất định để chờ đất yếu phía dưới cố kết (tức là chờ cho sức chống cắt của đất yếu tăng thêm theo mức độ cố kết đạt được trong thời gian t1) nhờ đó có thể tăng chiều cao đắp lên đến HghII (chiều cao đắp giới hạn sau khi đắp đến Hgh và chờ một thời gian t1). Đến đây lại Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 16 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS.
Nguyễn Văn Hùng có thể chờ để đắp giai đoạn III lên HghIII. Trong quá trình đắp để tăng độ an toàn thi công nhiều tư vấn nước ngoài đã khống chế tốc độ đắp trung bình là 5cm/ngày trong một số xây dựng qua vùng đất yếu của nước ta. Neàn ñaát ñaép III II I Neàn ñaát yeáu Chieàu cao ñaép III II I 0 Thôøi gian Hình 2. Giải pháp đắp nền đường trên đất yếu theo từng giai đoạn Giải pháp này rõ ràng bị khống chế bởi thời gian chờ cho phép phụ thuộc vào cách tính toán dự báo cố kết U = f(t) Ưu điểm: Thi công đơn giản.
Khuyết điểm: Đắp theo giai đoạn (vừa đắp vừa chờ) vì vậy thời gian thi công kéo dài. Đắp bệ phản áp Bệ phản áp dùng khi đắp nền đường trực tiếp trên đất yếu với tác dụng tăng mức độ ổn định chống trượt trồi cho nền đường để đạt các yêu cầu về ổn định. Bệ phản áp có vai trò như một đối trọng, tăng độ ổn định và cho phép đắp nền đường với các chiều cao lớn hơn, do đó đạt được độ lún cuối cùng trong một thời gian ngắn hơn. Bên phản áp còn có tác dụng phòng lũ, chống sóng, chống thấm nước,… So với việc làm thoải độ dốc taluy, đắp bệ phản áp với một khối lượng đất đắp bằng nhau sẽ có lợi hơn do giảm được mômen của các lực trượt nhờ tập trung tải trọng ở chân taluy.
Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 17 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS. Nguyễn Văn Hùng Chiều cao bệ phản áp phải nhỏ hơn hoặc bằng chiều cao đắp trực tiếp giới hạn Hgh và nên từ 1/3 ÷ 1/2 chiều cao nền đắp chính. Để tiết kiệm đất, chiều rộng bệ phản áp L có thể rút xuống bằng (2/3 ÷ 3/4) chiều dài chồi đất ứng với cung trượt nguy hiểm nhất (theo kinh nghiệm của một số nước chiều rộng L không cần phải chùm kín hết chiều dài chồi đất này). Chieàu daøi beä phaûn aùp H = 12m Neàn ñaép cao B = 5m D = 9m Neàn ñaát yeáu Hình 2.
Giải pháp sử dụng bệ phản áp vùng nối tiếp giữa cầu và đường Bệ phản áp là giải pháp tăng ổn định của nền đắp chính nhưng cũng có thêm tác dụng là hạn chế thành phần lún do đất yếu bị đẩy ngang sang hai bên dưới tác dụng của tải trọng đắp chính. Phải đắp bệ phản áp cùng một lúc với nền đắp chính, tuy nhiên đắp không cần đầm nén chặt. Ưu điểm: Thi công đơn giản, nhanh gọn, tận dụng được nguồn vật liệu địa phương. Khuyết điểm: Khối lượng đất đắp lớn chiếm nhiều diện tích.
Giải pháp này không thích hợp cho các loại đất yếu là than bùn và bùn sét, không thích hợp ở những nơi phải vận chuyển đất từ nơi khác đến, không giảm được thời gian lún cố kết và không những không giảm được độ lún mà còn làm tăng thêm độ lún. Phạm vi áp dụng: - Chiều dày nền đất yếu không lớn lắm. - Nền đường có chiều cao đắp trung bình - Không hạn chế về quỹ đất để xây dựng công trình - Gần nguồn cung cấp đất đắp. - Khi độ lún còn lại của công trình 30cm Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 18 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS.
Gia tải tạm thời Phương pháp gồm có việc đặt một gia tải (thường là 2m - 3m nền đắp bổ sung) trong vài tháng rồi sẽ lấy đi ở thời điểm t mà ở đó nền đường sẽ đạt được độ lún cuối cùng dự kiến như trường hợp với nền đắp không gia tải. Nói cách khác đây là phương pháp cho phép đạt được một độ cố kết yêu cầu trong một thời gian ngắn hơn. Để có hiệu quả thì theo kinh nghiệm các nước, chiều cao đắp thêm không được nhỏ quá (thường từ 2 ÷ 3m) và thời gian duy trì tải trọng đắp thêm này ít nhất là 6 tháng. Phần đắp gia tải trước không cần đầm nén và có thể dùng cả đất xấu lẫn hữu cơ.
Khi áp dụng giải pháp này cần đặc biệt chú ý kiểm toán sự ổn định của nền đắp khi có thêm tải trọng đắp gia tải trước và theo dõi khống chế tốc độ đắp phần gia tải trước, nếu không rất dễ xảy ra mất ổn định trong quá trình đắp gia tải trước khi chiều cao đắp tổng cộng vượt quá chiều cao đắp giới hạn Hgh. Do đó giải pháp đắp gia tải trước cũng thường được kết hợp với giải pháp bệ phản áp. Gia tải phải phù hợp với điều kiện ổn định của nền đắp. Phương pháp này chỉ nên dùng khi chiều cao tới hạn cao hơn nhiều so với chiều cao thiết kế.
Gia taûi Neàn ñaép Neàn ñaát yeáu Hình 2. Giải pháp gia tải nền đường đắp đắp cao đầu cầu 2. Nền đắp nhẹ Nền đắp nhẹ là giải pháp giảm trọng lượng nền đắp tác dụng lên đất yếu. Có thể sử dụng hai cách sau đây: - Giảm chiều cao nền đắp đến trị số tối thiểu cho phép căn cứ vào điều kiện địa chất thủy văn (đảm bảo chiều cao tối thiểu của nền đường cũng như chiều cao tối thiểu trên mực nước tính toán theo quy phạm).
Nếu là nền đường ở bãi sông có thể giảm mực nước dâng bằng cách tăng khẩu độ cầu. - Dụng vật liệu nhẹ để đắp nền đường: sử dụng các vật liệu đắp có trọng lượng thể tích nhỏ thì có thể loại trừ các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sự ổn định của nền đắp cũng như giảm nhỏ độ lún. Hiện nay ở các nước thường dùng: - Tro bay của nhà máy nhiệt điện để đắp nền trên đất yếu. Để dễ đầm nén nên dùng Học viên: Khương Văn Tùng Trang: 19 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGSTS.
Nguyễn Văn Hùng loại tro bay cỡ hạt từ 0.001 ÷ 2mm, trong đó lượng hạt <0.074mm nên chiếm dưới 45% và phải có lưởng tổn thất khi nung là dưới 12%, loại này thường có dung trọng khô là 0.2 T/m3); lực dính và góc nội ma sát theo kết quả cắt phẳng tương ứng độ chặt 95% ở trạng thái bão hòa là C = 6 ÷ 12kPa và φ = 14 ÷ 33o. Trị số mô đun đàn hồi có thể lấy từ 25 ÷ 30Mpa. Với tro bay có thể xây dựng theo hai cách: Đắp nền toàn bằng tro bay và dùng loại đất có chỉ số dẻo ≥ 6, bọc cả phần đáy nền và cả 2 bên taluy như kiểu đắp cát. Đắp xen kẽ cứ hai lớp tro bay (mỗi lớp dày 15 ÷ 20cm) lại đắp một lớp đất thường, hai bên mỗi lớp đều đắp đất bao loại có tính dính.
- Dùng các miếng polistiren có kích thước 0.5m xếp thành nền đường, trên đỉnh nền nên rải một lớp bê tông cốt thép dày 10cm để làm tầng bảo vệ và phân bố đều áp lực. Các lớp móng áo đường đặt trên lớp bê tông cốt thép này.