CHƯƠNG 1: Đánh giá địa chất tại 3 tuyến đường khác nhau Dựa vào quy hoạch và đặc điểm khai thác các tuyến đường tác giả kiến nghị đi vào nghiên cứu và tính toán các tuyến đường có cấp kỹ thuật cấp IV trở lên, với bề rộng nền đường ≥ 9m, chiều cao đắp H ≥ 3m. HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 21 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS. Lê Văn Bách CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ KHI XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG Ô TÔ ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU 2. Yêu cầu của việc xử lý nền đất yếu Xử lý nền đất yếu nhằm mục đích làm tăng sức chịu tải của nền đất, cải thiện một số tính chất cơ lý của nền đất yếu như: Giảm hệ số rỗng, giảm tính nén lún, tăng độ chặt, tăng trị số modun biến dạng, tăng cường độ chống cắt của đất.
Độ lún cố kết cho phép còn lại trong thời gian 15 năm tính từ khi đưa kết cấu áo đường vào khai thác sử dụng tại tim đường phải thỏa mãn các qui định ở bảng sau: Vị trí đoạn nền đắp trên đất yếu Cấp hạng đường và loại tầng Các đoạn nền mặt kết cấu áo đường Gần mố Chỗ có cống đắp thông cầu hoặc cống chui thường 1. Đường cao tốc các loại, đường cấp I, đường cấp II hoặc đường cấp III vùng đồng bằng và đồi 10cm 20cm 30cm (tức là các cấp đường có tốc độ thiết kế từ 80Km/h trở lên) có tầng mặt là loại cấp cao A1 2. Đường cấp III hoặc cấp IV có tốc độ thiết kế từ 60Km/h trở lên 20cm 30cm 40cm và có tầng mặt là loại cấp cao A1 HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 22 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS. Lê Văn Bách Số liệu quan trắc lún theo chiều thẳng đứng và quan trắc di động ngang của vùng đất yếu hai bên nền đắp trong quá trình đắp nền và đắp gia tải trước phải không được vượt quá trị số quy định dưới đây: - Tốc độ lún ở đáy nền đắp tại trục tim của nền đường không được vượt quá 10mm/ngày đêm.
- Tốc độ di động ngang của các cọc quan trắc đóng hai bên nền đắp không được vượt quá 5mm/ngày đêm. Các giải pháp không cải thiện nền đất yếu Đây là các giải pháp thường được sử dụng. Khi áp dụng các biện pháp này phải nhằm đạt được hai mục tiêu: - Đảm bảo sự ổn định của nền đắp đầu cầu trong khi xây dựng. - Tốc độ và độ lún đạt được yêu cầu thi công.
Khi áp dụng các biện pháp này thì yêu cầu lớp trên nền đất yếu phải tiếp xúc với một lớp vật liệu thấm nước tốt. Nếu vật liệu đắp nền đường là đất dính thì phải làm một lớp đệm cát có chiều dày từ 0,5m đến 1m để tăng nhanh thời gian cố kết. Đắp nền theo giai đoạn Khi sức chịu tải ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường ổn định cần áp dụng biện pháp tăng dần cường độ của nó bằng cách đắp đất từng lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu tải tăng, có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn thì mới đắp lớp đất tiếp theo. Đắp trực tiếp trên đất yếu chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đất đắp (bao gồm cả phần đắp dự phòng lún) chiều cao đắp giới hạn H.
Do vậy để áp dụng được giải pháp này phải tính dự báo độ lún tổng cộng và phải xác định được H tuỳ thuộc vào sức khánh cắt ban đầu và bề dày tầng đất yếu. HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 23 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS. Lê Văn Bách Để xác định được chiều cao H có nhiều phương pháp tính như phương pháp mặt trượt trụ tròn phân mảnh của các tác giả W. , phương pháp phần tử hữu hạn.
Việc tính toán có thể thực hiện một cách nhanh chóng nhờ các phần mềm địa kỹ thuật thông dụng như Geo- Slope, Plaxis, Abaqus. và một số toán đồ đã được các tác giả lập sẵn. Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là thời gian thi công lâu độ lún cố kết còn lại thường lớn (chỉ thích hợp với đường làm mới và không đòi hỏi về tiến độ thi công), nền đường không ổn định chiều cao đắp ko lớn do đất nền chưa được xử lý triệt để. NEÀN ÑAÉP THEO GIAI ÑOAÏN Y 3 2 CHIEÀU CAO 1 3 2 1 O THÔØI GIAN X Hình 2.
Giải pháp đắp nền đường theo từng giai đoạn Đắp theo từng giai đoạn (vừa đắp vừa chờ) là lợi dụng tối đa quảng thời gian thi công cho phép để tăng chiều cao đất đắp trực tiếp lên trị số H. Theo cách này đất đắp đến H1 gọi là giai đoạn I, tiếp đó duy trì tải trọng đắp trong một thời gian T1 nhất định để chờ đất yếu phía dưới cố kết (tức là chờ cho sức chống cắt của đất yếu tăng thêm theo mức độ cố kết đạt được trong thời gian T1) nhờ đó có thể tăng chiều cao đắp lên đến H2 (chiều cao đắp giới hạn sau khi đắp đến H và chờ một thời gian T1). Đến đây lại có thể chờ để đắp giai đoạn III lên H3. cứ thế tiến hành đến khi độ lún cố kết đạt yêu cầu thì tiến hành thi công đến cao độ thiết kế.
Trong quá trình đắp để tăng độ an toàn thi công phải đảm bảo không được vượt quá các giá trị ở mục 2.1 ”Yêu cầu của việc xử lý nền đất yếu”. HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 24 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS. Đắp bệ phản áp Bệ phản áp dùng khi đắp nền đường trực tiếp trên đất yếu với tác dụng tăng mức độ ổn định chống trượt trồi cho nền đường để đạt các yêu cầu về ổn định. Bệ phản áp có vai trò như một đối trọng, tăng độ ổn định và cho phép đắp nền đường với các chiều cao lớn hơn, do đó đạt được độ lún cuối cùng trong một thời gian ngắn hơn.
Bệ phản áp còn có tác dụng làm đường tạm trong quá trình thi công, đê phòng lũ, chống sóng, chấm thấm nước…So với việc làm thoải độ dốc taluy, đắp bệ phản áp với một khối lượng đất đắp bằng nhau sẽ có lợi hơn do giảm được momen của các lực trượt nhờ tập trung tải trọng ở chân taluy. Y CHIEÀU CAO O CHIEÀU ROÄNG X Hình 2. Giải pháp sử dụng bệ phản áp vùng nối tiếp giữa cầu và đường Chiều cao bệ phản áp phải nhỏ hơn hoặc bằng chiều cao đắp trực tiếp giới hạn H và nên từ 1/3 1/2 chiều cao nền đắp chính để tránh hiện tường trồi đất đối với nền đắp chính. Chiều rộng bệ phản áp L thường kéo dài thêm 1m – 3m so với cung trượt nguy hiểm nhất.
Vật liệu đắp bệ phản áp có thể là cát, đất dùng để đắp nền đường, đất lấy từ 2 bên đường. độ chặt đầm nén tiêu chuẩn phải đảm bảo K≥0. Bệ phản áp là giải pháp tăng độ ổn định của nền đắp chính nhưng cũng có thêm tác dụng là hạn chế thành phần lún do đất yếu bị đẩy ngang sang hai bên dưới tác dụng của tải trọng đắp chính. Tuy nhiên việc đắp bệ phản áp thường HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 25 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS.
Lê Văn Bách không được dùng để làm tăng độ cố kết nền đường và có hạn chế là cần diện tích và khối lượng đất đắp lớn, thời gian thi công lâu. Gia tải tạm thời Phương pháp gồm có việc đặt một gia tải trong vài tháng rồi sẽ tiến hành dở tải ở thời điểm T mà ở đó nền đường sẽ đạt được độ lún cuối cùng dự kiến như trường hợp với nền đắp không gia tải. Nói cách khác đây là phương pháp cho phép đạt được một độ cố kết yêu cầu trong một thời gian ngắn hơn. Để có hiệu quả thì theo kinh nghiệm các nước, chiều cao đắp thêm không được nhỏ quá (thường từ 2 3m) và thời gian duy trì tải trọng đắp thêm này ít nhất là 6 tháng.
Phần đắp gia tải trước không cần đầm nén và có thể dùng cả đất xấu lẫn hữu cơ. Khi áp dụng giải pháp này cần đặc biệt chú ý kiểm toán sự ổn định của nền đắp khi có thêm tải trọng đắp gia tải trước và theo dõi khống chế tốc độ đắp phần đắp gia tải trước, nếu không rất dễ xảy ra mất ổn định trong quá trình đắp gia tải trước khi chiều cao đắp tổng cộng vượt quá chiều cao đắp giới hạn H. Do đó giải pháp đắp gia tải trước cũng thường được kết hợp với giải pháp bệ phản áp. Gia tải phải phù hợp với điều kiện ổn định của nền đắp.
Giải pháp này chỉ nên dùng khi chiều cao tới hạn cao hơn nhiều so với chiều cao thiết kế và thường được kết hợp với các phương pháp cải tạo đất nền để đạt được yêu cầu thiết kế. NEÀN ÑAÉP KEÁT HÔÏP GIA TAÛI Hình 2. Giải pháp gia tải nền đường đắp cao đầu cầu HVTH: Bùi Hà Thanh – Lớp XD Đường Ôtô & TP K18 Trang 26 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: TS. Giảm trọng lượng nền đắp Giải pháp giảm trọng lượng nền đắp tác dụng lên đất yếu.
Có thể sử dụng hai cách sau đây: - Giảm chiều cao nền đắp đến trị số tối thiểu cho phép căn cứ vào điều kiện địa chất thủy văn (đảm bảo chiều cao tối thiểu của nền đường cũng như chiều cao tối thiểu trên mực nước tính toán theo quy phạm). - Dùng vật liệu nhẹ (tro bay, xỉ lò cao, bê tông xen-lu-lô, polystyren nở .) để đắp nền đường với các yêu cầu sau: + Dung trọng nhỏ; + Cường độ cơ học nhất định; + Không ăn mòn bê tông và thép; + Có khả năng chịu nén lớn nhưng độ nén lún nhỏ; + Không gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng các vật liệu nhẹ thì có thể loại trừ các yếu tố bất lợi ản hưởng đến sự ổn định của nền đắp cũng như giảm nhỏ độ lún. Hiện nay ở các nước thường dùng: - Tro bay vật liệu thu được từ việc đốt thanh ở các nhà máy nhiệt điện là một loại puzơlan nhân tạo có các silic oxít, nhôm oxít, canxi oxit, manhê oxít và lưu huỳnh oxít.
Ngoài ra, có thể chứa một lượng than chưa cháy, yêu cầu không được quá 6% trọng lượng tro bay. Tro bay càng mịn càng tốt.