CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIA TẢI TRƯỚC CÓ SỬ DỤNG BẤC THẤM 1. CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN ĐẤT YẾU MIỀN NAM VIỆT NAM 1. Khái niệm và phân loại đất yếu miền Nam Việt Nam 1. Khái niệm về đất yếu Theo [1]: đất yếu là loại đất phải xử lý, gia cố mới có thể dùng làm nền cho móng công trình.
Các loại đất yếu thường gặp là bùn, đất loại sét (sét, sét pha, cát pha) ở trạng thái dẻo nhão. Những loại đất này thường có: - Độ sệt lớn (IL>1); - Hệ số rỗng lớn (e >1); - Góc ma sát trong nhỏ (φ <100); - Lực dính theo kết quả cắt nhanh không thoát nước c < 0.15 daN/cm²; - Lực dính theo kết qủa cắt cánh hiện trường cu< 0.35 daN/cm²; - Sức chống mũi xuyên tỉnh qc < 0.1 Mpa; - Chỉ số xuyên tiêu chuẩn SPT là N< 5. Phân loại đất yếu Những kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy bề mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long được bao phủ chủ yếu là các loại đất dính: sét, á sét, á cát ở trạng thái nửa cứng đến dẻo chảy và các loại bùn sét, bùn á sét. Ở điều kiện tự nhiên sức chịu tải của chúng rất yếu.
Tùy theo thành phần vật chất, phương pháp và điều kiện hình thành, vị trí trong không gian, điều kiện địa lý và khí hậu mà tồn tại các loại đất yếu khác nhau như: đất sét mềm, cát hạt mịn, than bùn, các loại trầm tích bị mùn hóa, than bùn hóa. Đặc trưng và trạng thái vật lý đất yếu miền Nam Việt Nam 1. Đặc trưng vật lý Tầng trầm tích mới thuộc miền Nam Việt Nam là đối tượng nghiên cứu chủ yếu về mặt địa chất công trình. Các lớp đất chính thường gặp là những loại đất sét hữu cơ và sét không hữu cơ có trạng thái độ sệt khác nhau.
Ngoài ra còn gặp những lớp cát, sét bùn lẫn vỏ sò và sạn laterite. Ngay trong lớp đất sét còn gặp các vệt cát nhỏ. Dựa vào hình trụ hố khoan trong phạm vi độ sâu khoảng 30m trở lại của những công trình thủy lợi ở tỉnh Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau và thành phố Hồ Chí Minh có thể phân chia các lớp đất nền như sau: + Lớp đất ở trên mặt: Dày khoảng 0,5m - 1,5m, gồm những loại đất sét hạt bụi đến sét cát, có màu xám nhạt đến màu xám vàng. Có nơi là bùn sét hữu cơ màu xám đen.
Lớp này có nơi nằm trên mực nước ngầm, có nơi nằm dưới mực nước ngầm. + Lớp sét hữu cơ: Nằm dưới lớp mặt là lớp sét hữu cơ, có chiều dày thay đổi từ 3.0m vùng Long An, từ 9.0m vùng Thạch An - Hậu Giang, từ 18.0m vùng Long Phú - Hậu Giang. Chiều dày lớp này tăng dần về phía biển; thường có màu xám đen, xám nhạt hoặc vàng nhạt, có các đặc trưng vật lý sau: Hàm lượng sét chiếm từ 40 % ÷ 70 % Hàm lượng hữu cơ thường gặp là 2 % ÷ 8 % Độ ẩm tựnhiên: W = 50 % ÷ 100 %, có nơi W > 100 % Độ ẩm giới hạn chảy: WL = 50 % ÷ 100 % Độ ẩm giới hạn dẻo: Wp= 20 % ÷ 70 % Chỉ số dẻo: A = 20 % ÷ 60 % Hệ số rỗng: e0=1. Dung trọng tự nhiên: γw = 13.5 (kN/m³) Dung trọng khô: γk = 6.5 (kN/m³) + Lớp sét cát lẫn ít sạn, mảnh vụn laterite và vỏ sò hoặc lớp cát: Lớp này dày khoảng 3.0m, thường nằm chuyển tiếp giữa lớp sét hữu cơ với lớp sét không hữu cơ có các đặc trưng vật lý sau: Độ ẩm tự nhiên: W = 32 % ÷ 35 %; Dung trọng tự nhiên: γw = 16.
+ Lớp đất sét không lẫn hữu cơ: Lớp đất sét khá dày xuất hiện ở những độ sâu khác nhau. Lớp đất ở trạng thái dẻo mềm, dẻo chảy. Đất chưa được nén chặt, hệ số rỗng lớn, dung trọng nhỏ. Sức chống cắt thấp, có màu xám vàng hoặc vàng nhạt.
Các chỉ tiêu vật lý của nó thay đổi trong phạm vi như sau: Độ ẩm tự nhiên: W = 25 % ÷ 55 % Độ ẩm giới hạn chảy: WL= 40 % ÷ 65 % Độ ẩm giới hạn dẻo:Wp = 20 % ÷ 30 % Chỉ số dẻo: A = 1 7 % ÷ 45 % Hệ số rỗng: e0 = 0.5 Dung trọng tự nhiên: γw = 16.5 (kN/m³) Dung trọng khô: γk = 10. Trạng thái vật lý Trong đất rời, theo [2], trạng thái của đất cát tự nhiên được phân thành chặt, chặt vừa và xốp như Bảng 1. Phân loại độ chặt của đất cát theo hệ số rỗng e Độ chặt Id = (emax − e) Loại đất (emax − emin ) Chặt Chặt vừa Xốp Cát sạn, cát tơi và e < 0.8 Trạng thái vật lý của đất dính: + Tùy thuộc vào lượng nước trong lỗ rỗng của các hạt sét mà đất có thể ở trạng thái chảy, dẻo, nửa cứng hoặc cứng. Độ ẩm tương ứng giữa các trạng thái của đất gọi là độ ẩm giới hạn (các giới hạn Atterberg): giới hạn chảy WL, giới hạn dẻo Wp (còn gọi là giới hạn lăn).
Để đánh giá tính dẻo của đất người ta dùng chỉ số dẻo Ip. Ip = WL - Wp + Theo [2], chỉ số dẻo Ip được dùng làm chỉ tiêu để phân loại đất dính; dùng độ nhão IL làm chỉ tiêu đánh giá trạng thái của đất dính theo Bảng 1. Phân loại đất dính theo Ip Tên đất Chỉ số dẻo Ip Á cát 7 ≥ Ip ≥ 1 Á sét 17 ≥ Ip ≥ 7 Sét Ip >17 Bảng 1. Đánh giá trạng thái đất dính theo độ nhão IL Tên trạng thái đất Độ nhão IL Á cát Rắn IL < 0 Dẻo 0 < IL <1 Chảy IL >1 Á sét và sét Rắn IL < 0 Nữa rắn 0 < IL < 0.75 < IL < 1 Chảy IL >1 1.
Đặc điểm cơ lý của đất yếu Đất miền Nam Việt Nam được phân chia thành 7 lớp đất (6 lớp thuộc Haloxen và 1 lớp thuộc trầm tích Pleistoxen muộn), trong đó có 3 lớp dạng bùn mềm yếu: + Lớp 1: Sét màu nâu, có chỗxám vàng CL, CH. + Lớp 2: Bùn sét (hoặc bùn á sét chứa hữu cơ) màu đen, xám nhạt hoặc vàng nhạt MH (OH). + Lớp 3: Bùn á sét (hoặc bùn á sét chứa hữu cơ) màu đen, xám nhạt hoặc vàng nhạt ML (OL). + Lớp 5: Đất sét chặt có màu loang lổ đỏ vàng, có chỗ màu vàng trắng CL.
+ Lớp 7: Cát hạt bụi màu xám sậm, xám tối có khi vàng nhạt SW. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIA TẢI TRƯỚC CÓ SỬ DỤNG BẤC THẤM. Giới thiệu Lún cố kết luôn gây ra nhiều vấn đề đối với nền móng công trình, hệ số thấm của sét yếu rất nhỏ cho nên độ lún cố kết chỉ kết thúc sau một thời gian khá lâu. Để rút ngắn thời gian cố kết người ta dùng kỹ thuật bấc thấm cộng với phương pháp gia tải trước.
Dưới tác dụng của gia tải, gradient thủy lực của nước trong lỗ rỗng gia tăng làm cho nước thấm theo phương ngang vào bấc thấm và sau đó nước sẽ di chuyển tự do một cách nhanh chóng theo bấc thấm lên trên bề mặt. Như vậy dùng bấc thấm sẽ rút ngắn chiều dài đường thấm nên thời gian cố kết cũng rút ngắn một cách đáng kể. Hơn nữa hệ số thấm theo phương ngang lớn hơn hệ số thấm theo phương đứng vì vậy thời gian kết thúc cố kết sẽ rất nhanh. Nguyên lý tổng quát của phương pháp gia tải đất đắp Tiến hành chất tải phân bố đều trên bề mặt của nền đất trước khi thi công công trình.
Việc gia tải trước sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố sau: - Độ lún cố kết sơ cấp; - Độ lún cố kết thứ cấp; - Sức chống cắt khôn thoát nước của đất. Kỹ thuật gia tải trước có hai dạng: - Chất tải trước với tải trọng lớn hơn tải trọng công trình; - Chất tải trước theo từng cấp tải trọng. Trường hợp chất tải trước với gia tải lớn hơn tải trọng công trình thì gia tải sẽ được dỡ đi khi độ lún còn lại của nền dưới tải trọng của công trình là bằng không hoặc không đáng kể. Ở công trường, hình thức gia tải có thể có nhiều dạng, có thể chính là tải trọng của đất đắp hoặc của bồn chứa.
Trường hợp chất tải nhiều đợt thì theo thời gian nền sẽ cố kết và sức chống cắt gia tăng để chịu được cấp tải trọng lớn hơn sau đó, trong khi đó nếu chất tải một lần thì nền sẽ bị phá hoại. Tải trọng dùng để gia tải trước có ba dạng : - Đất đắp (đã được sử dụng trên 70 năm); - Bể chứa nước; - Hút chân không.1 Hình ảnh minh họa về phương pháp gia tải trước kết hợp bấc thấm 1. Ưu và nhược điểm của phương pháp 1. Ưu điểm: Tốc độ thi công bấc thấm rất nhanh: mỗi máy có thể cắm bấc thấm 5000m/ngày/máy, số cọc bấc thấm cắm được trong một giờ trung bình là 300 cái.
Trong quá trình lắp đặt bấc thấm sẽ không xảy ra hiện tượng đứt bấc thấm như đối với giếng cát. Trong quá trình cố kết, bấc thấm đặt trong nền đất yếu sẽ không xảy ra hiện tượng bị cắt trượt do lún cố kết gây ra. Bấc thấm có khả năng thấm nước cao, hệ số trung bình đạt từ 30x10-6 đến 9x10-6m3/s. Khi thi công bấc thấm phạm vi gây nên sự vấy bẩn và phá hoại kết cấu nền nhỏ hơn so với khi thi công cọc cát, giếng cát hay là cọc đất gia cố ximăng.
Không yêu cầu nước phục vụ thi công. Chiều sâu cắm bấc thấm có thể rất sâu, có khi đạt đến 40m. Dễ dàng kiểm tra được chất lượng. Thoát nước tốt trong các điều kiện khác nhau.
Không bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện khác. Bấc thấm là sản phẩm được chế tạo trong nhà máy công nghệ và chất lượng ổn định. Nhược điểm: Mất nhiều thời gian để đạt đến độ cố kết yêu cầu và ít có dự án nào có thể chờ đợi trong thời gian dài. Biến dạng của bấc thấm, vùng xáo trộn,.
gây ảnh hưởng đến chất lượng thi công của phương pháp gia tải trước kết hợp cắm bấc thấm. TỔNG QUAN VỀ BẤC THẤM 1. Lịch sử phát triển Bấc thấm đầu tiên được làm bằng toàn bộ giấy các-tông tại Thụy Điển và được biết đến như bấc thấm các-tông, nhưng loại bấc thấm này nhanh chóng bị hư hại do áp lực đất và hệ số thấm của nó thấp. Vào năm 1972, Oleg Wager – cộng sự của Kjellman, giới thiệu một loại bấc thấm mới có lõi bằng nhựa tổng hợp bao quanh bởi giấy thấm, gọi là Geodrain.