CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM KHAI THÁC CỦA CÁC TUYẾN ĐƯỜNG ĐÃ VÀ SẼ ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN KHU VỰC Q7 – TP. HỒ CHÍ MINH. Đặc điểm địa chất TP. Hồ Chí Minh.
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây Bắc và Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn, Bắc Bình Chánh, quận Thủ Ðức, Bắc - Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu vực nội thành cũ. Ðiểm chung của tướng trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc lượn sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam. Dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời gian và hoạt động của con người, qua quá trình xói mòn và rữa trôi., trầm tích phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đất mang những đặc trưng riêng.
Nhóm đất xám, với qui mô hơn 45.000 ha, tức chiếm tỷ lệ 23,4% diện tích đất thành phố. Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện tích. Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2m đến 15m. Ðất chua, độ pH khoảng 4,0- 5,0, đất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt.
Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản. 5 Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và bãi bồi. nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn (45. Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi địa hình hơi cao khoảng 1,5-2,0m. Nó tập trung tại vùng giữa của phía Nam huyện Bình Chánh, Quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và một ít nơi ở Củ Chi, Hóc Môn. Nhóm đất phù sa hai loại: đất phù sa không được bồi, có tầng loang lổ; đất phù sa không được bồi, gley. Trong đó hai loại đầu chiếm diện tích lớn hơn; loại sau, là đất phù sa ngọt, đất rất tốt, chỉ có khoảng 5.
Ðất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung bình tới sét nặng. Ðất có phản ứng chua, độ pH khoảng 4,2-4,5 ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5- 1,2m độ chua giảm nhiều, pH nâng lên tới 5,5-6,0. Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng khá. Nhóm đất phèn, có hai loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình.
Chúng phân bố tập trung chủ yếu ở hai vùng. Vùng đất phèn Tây Nam Thành phố, kéo dài từ Tam Tân-Thái Mỹ huyện Củ Chi xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh -các xã Tân Tạo, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân. Vùng này hầu hết thuộc loại đất phèn nhiều (phèn nặng); đất rất chua, độ pH khoảng 2,3-3,0. Nó cùng điều kiện thành tạo và tính chất giống như đất phèn vùng Ðồng Tháp Mười, vùng đất phèn ven sông Sài Gòn-Rạch Tra và bưng Sáu xã quận 9.
ở đây hầu hết diện tích thuộc loại đất phèn trung bình và ít, phản ứng của đất chua nhẹ ở tầng đất mặt, độ pH khoảng 4,5-5,0; song giảm mạnh ở tầng đất dưới, đất rất chua, độ pH xuống tới 3,0-3,5. 6 Ðất phèn có thành phần cơ giới từ sét đến sét nặng, đất chặt, dưới độ sâu khoảng từ 1m trở xuống, có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn. Ðất khá giàu mùn, chất dinh dưỡng trung bình; song hàm lượng các ion độc tố cao, nên trên đất phèn không thích hợp với trồng lúa. Nhóm đất phèn mặn: Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đất phèn mặn là nhóm có diện tích lớn nhất.
Nó phân bố tập trung ở đại bộ phận lãnh thổ huyện Nhà Bè và hầu như toàn bộ huyện Cần Giờ. Theo độ mặn và thời gian ngập mặn, nhóm đất mặn được chia làm hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn Thường xuyên (còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn). Ðất phèn mặn theo mùa có diện tích 10.500 ha, phân bố ở Nhà Bè và bắc huyện Cần Giờ. Thời gian bị mặn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 hoặc tháng 7 năm sau.
Ðất thịt, giàu mùn, chứa nhiều xác hữu cơ dưới môi trường yếm khí, chất dinh dưỡng khá; phản ứng của đất từ chua đến rất chua, pH ở độ sâu tầng sinh phèn xuống tới 2,4-2,7. Tuy nhiên, về mùa lũ, mặn bị đẩy ra xa và nước được pha loãng trong thời gian dài 4-5 tháng; đồng thời đất có lớp phủ phù sa dày tới 20-30 cm. Ðất mặn dưới rừng ngập mặn: Loại đất này rộng 35.000 ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ. Ðất thịt trung bình, màu xám đen, nhiều mùn nhão lẫn xác hữu cơ bán phân giải, bị ngập triều thường ngày, nói chung đất còn ở dạng bùn lỏng chưa cố định, giàu chất dinh dưỡng, độ pH tầng đất trên 5,8-6,5.
Ðất ngập mặn, phù hợp với duy trì và phát triển các loại cây rừng ngập mặn, nhằm giữ bờ lấn biển, bảo vệ môi trường cảnh quan, phục vụ phát triển du lịch sinh thái và nuôi dưỡng hệ sinh thái giàu tiềm năng ở vùng ven biển phía nam của thành phố. Nhược điểm chung của hai loại đất phèn mặn là nền đất yếu, nhất là đất phèn mặn thường xuyên; do đó có mặt hạn chế trong xây dựng cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, lại rất thuận lợi đối với phát triển giao thông đường thủy, bởi hệ thống sông rạch tự nhiên mật độ rất dày, chiếm tới gần 1/3 diện tích lãnh thổ của cả nhóm đất. Đặc điểm và phân vùng địa chất ở khu vực Q7.
Dựa vào hình trụ hố khoan của các công trình tham khảo ở khu vực quận 7: Đường nối Khu A Nam Sài Gòn đến cầu Phú Mỹ [1], Sữa chữa Nâng cấp đường Nguyễn Thị Thập[2], Xây dựng mới Đường và Cầu Tân Thuận[3], Xây dựng trục Bắc Nam[4], Cầu Phú Mỹ - đường đầu cầu …. trong phạm vi độ sâu khoảng 28m trở lại có thể phân chia các lớp địa chất cơ bản ở quận 7 như sau: 1. Đặc điểm địa chất ở khu vực quận 7: 1. Lớp 1 Lớp Bùn sét lẫn hữu cơ này có bề dày lớp thay đổi từ 5.
Lớp bùn sét thường có màu xám xanh – xám đen, hàm lượng hạt sét chiếm 30-70%, giá trị SPT thay đổi 1-4 búa/30cm. Lớp 2 Lớp Sét pha trạng thái dẻo mềm này có bề dày lớp thay đổi từ 1. Lớp sét pha thường có màu xám xanh – xám vàng, giá trị SPT thay đổi 10-24 búa/30cm. Lớp 3 Lớp sét, trạng thái dẻo cứng, có bề dày lớp thay đổi từ 3,6m đến 6m.
Lớp này thường có màu xám xanh – xám trắng – nâu đỏ. Lớp 4 Lớp Cát sét, hạt trung, lẫn ít sỏi sạn, màu xám trắng đốm xam xanh hay vàng, có chiều dày từ 3m đến 5m từ trạng thái dẻo cứng đôi chỗ dẻo mềm, màu xám xanh - xám vàng. Lớp 5 Cát, đôi chỗ lẫn sỏi thạch anh, màu xám trắng, trạng thái chặt vừa, bề dày thay đổi từ 2. Lớp này có khả năng chịu tải tốt hơn các lớp trên nó.
Chỉ tiêu cơ lý của các lớp 8 Bảng 1.1 Chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất Chỉ tiêu Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 - Độ ẩm W (%) 60 – 95% 10 – 22% 25 – 40% 15 – 30% - Dung trọng tự nhiên 1,4 – 1,6 1,9 – 2,2 1,7 – 1,95 1,8 – 2,4 (g/cm3) g/cm3 g/cm3 g/cm3 g/cm3 - Dung trọng khô 0,7 – 0,98 1,6 – 1,8 1. Phân vùng địa chất đất yếu công trình: Đề tài tiến hành phân vùng đất yếu phân chia khu vực Quận 7 ra các khu vực có đặc điểm tương đồng về loại đất yếu. Nguyên tắc phân chia dựa trên sự đồng nhất của đơn vị địa mạo theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái (vùng địa chất) cũng như sự đồng nhất về thạch học, và trật tự cấu trúc của các phức hệ thạch học (khu địa chất) và các số liệu thu thập được từ các lỗ khoan địa chất. Địa chất quận 7 có thể chia làm 3 vùng: Bảng 1.2 Phân vùng địa chất: STT Vùng Thành phần lớp Bề dày các lớp (m) - Lớp 1: bùn sét lẫn hữu cơ 5m -:- 12m 1 I - Lớp 2: Sét pha trạng thái dẻo mềm 1.5m -:- 5m - Lớp 5: Cát, hạt nhỏ - trung 10m (lớp dưới cùng) - Lớp 1: bùn sét lẫn hữu cơ 12m -:- 20m 2 II - Lớp 4: Cát sét, hạt trung lẫn ít sỏi sạn 3.0m - Lớp 5: Cát, hạt nhỏ - trung 6m (lớp dưới cùng) - Lớp 1: bùn sét lẫn hữu cơ 20m -:- 25m 3 III - Lớp 3: Sét trạng thái dẻo cứng 3m -:- 6m - Lớp 5: Cát, hạt nhỏ - trung 2.0m 9 BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG ĐỊA CHẤT ĐẤT YẾU KHU VỰC QUẬN 7 Hình 1.1 Bản đồ phân vùng địa chất 10 Hình 1.2 Mặt cắt địa chất 03 vùng 11 1.
Đặc điểm khai thác của các tuyến đường đã và sẽ được xây dựng trên khu vực Q7. Đặc điểm khai thác của tuyến đường đã được xây dựng trên khu vực quận 7 Đường Nguyễn Văn Linh + Quy mô mặt cắt ngang: Lộ giới đường: 120m; Số làn xe: 10 làn xe; Giải phân cách ở giữa rộng 18 – 36m. + Mặt đường: láng nhựa. + Tải trọng trục 120 kN.
+ Chiều cao đắp trung bình 2-3m. + Chiều sâu đất yếu: 20m. Đường Nguyễn Hữu Thọ + Quy mô mặt cắt ngang: Lộ giới đường: 14m, Số làn xe: 4 làn xe + Mặt đường: Bê tông nhựa + Tải trọng trục 120 kN. + Chiều cao đắp trung bình 1-1,5m.
+ Chiều sâu đất yếu: 10m Đường Nguyễn Thị Thập[2] + Quy mô công trình: Loại công trình : Đường trong đô thị. Cấp công trình : cấp II. Tải trọng trục 120 kN. Áp lực tính toán: 0.6Mpa; đường kính vệt bánh xe D=36cm.
Mô đun đàn hồi yêu cầu: Eyc ≥ 175Mpa.