Chương 1: Tổng quan về các phương pháp xử lý nền đất yếu cho nền đường đắp cao. - Chương 2: Hiện trạng dự án thi công cầu Ông Kèo, tỉnh Đồng Nai và giải pháp xử lý đất yếu bằng cọc đất gia cố xi măng. - Chương 3: Nghiên cứu giải pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc đất gia cố xi măng cho đường đầu cầu Ông Kèo, tỉnh Đồng Nai. Giáo viên hướng dẫn: PGS.
Lã Văn Chăm; 9 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO NỀN ĐƢỜNG ĐẮP CAO 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT YẾU Ở VIỆT NAM. Nguồn gốc và các loại đất yếu thƣờng gặp ở nƣớc ta.
Đất yếu có nhiều nguồn gốc khác nhau (khoáng vật hoặc hữu cơ) và có điều kiện hình thành khác nhau (trầm tích ven biển, vịnh biển, đầm hồ, đồng bằng châu thổ, vùng đầm lầy có mực nước ngầm cao, vùng có nước tích đọng thường xuyên…), nói chung đất yếu có các đặc trưng sau: Sức chịu tải nhỏ, hệ số rỗng lớn (e>1), đất ở trạng thái bão hòa hoặc gần bão hòa, tính thấm nước kém (hệ số thấm nhỏ) và thay đổi theo sự biến dạng của đất yếu, tính biến dạng (lún) lớn khi chịu tác dụng của tải trọng ngoài. Ở mỗi nước, đất yếu được phân loại theo chỉ tiêu cơ lý của đất. Ở nước ta cách phân loại đất yếu được quy định cụ thể tại 22TCN 262-2000 ―Quy trình khảo sát thiết kế nền đường ôtô đắp trên đất yếu ‖[3]. Trong đó chia thành các loại có nguồn gốc khoáng vật và loại có nguồn gốc hữu cơ.
Các loại đất yếu thường gặp nước ta là bùn, than bùn, sét mềm, hữu cơ. Sét mềm là các loại đất sét, á sét tương đối chặt, bão hòa nước, thường được bồi tụ trong nước theo những cách khác nhau như: Bồi tích ven biển, đầm phá, cửa sông, ao hồ… Đất sét gồm các hạt nhỏ như thạch anh, felspat (phần tán thô) và các khoáng vật sét. Đặc điểm quan trọng của sét mềm là tính dẻo được tạo thành bởi thành phần khoáng vật của nhóm hạt có kích thước nhỏ hơn 0,002mm và hoạt tính của chúng đối với nước. Sét mềm có trạng thái từ dẻo chảy đến chảy.
Bùn là các lớp đất mới được tạo thành trong môi trường nước ngọt hoặc nước biển, gồm các hạt rất mịn (<200 m), bản chất khoáng vật thay đổi và thường có kết cấu tổ ong. Bùn có thể là á cát, á sét, sét, luôn no nước, có hàm lượng hữu cơ thường nhỏ hơn 10% và rất yếu về mặt chịu lực. Than bùn có nguồn gốc hữu cơ được hình thành ở đầm lầy nơi đọng nước thường xuyên hoặc có mực nước ngầm cao, các loại thực Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 10 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố vật phát triển, thối rữa, phân hủy tạo thành các trầm tích hữu cơ lẫn trầm tích khoáng vật.
Than bùn có độ ẩm cao, bị nén lún lâu dài, không đều. Sự phân bố các vùng đất yếu ở Việt Nam. Do lịch sử địa chất, diện phân bố đất yếu ở nước ta khá rộng từ vùng núi trung du đến các đồng bằng, ở cả 3 miền Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Ở vùng núi và trung du, đất yếu nằm trong dải trũng rộng, vùng hồ, thung lũng … có cấu trúc không phức tạp, đồng nhất, chiều dày không lớn.
Ở các vùng đồng bằng, nền đất yếu khá phổ biến, cấu trúc phức tạp, đa dạng, không đồng nhất, chiều dày lớn, thành phần trầm tích, trạng thái và tính chất cơ lý của đất yếu cũng rất khác nhau. CÁC PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU CHO NỀN ĐƢỜNG ĐẮP CAO. Các nguyên tắc xử lý nền đất yếu cho nền đƣờng đắp cao. Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xây dựng nền đắp trên đất yếu là ưu tiên áp dụng các giải pháp đơn giản, chỉ tác động đến bản thân nền đắp.
Tiếp đó là đến các giải pháp xử lý nông, rồi đến các giải pháp xử lý sâu. Việc lựa chọn thường theo các tiêu chí sau: khả năng thực hiện tại chỗ về vật liệu, thiết bị, tay nghề, thời gian chờ cố kết, tuổi thọ của công trình (vĩnh cửu, tạm thời hay độ lún cho phép trong quá trình khai thác), công nghệ thi công, vật liệu thi công. Các giải pháp xử lý nền đƣờng đắp trên đất yếu hiện nay.Giải pháp thay đất. Giải pháp thay đất là thay thế một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu dưới nền đường bằng lớp đất khác (đệm cát, đệm đất) có khả năng chịu tải tốt hơn.
Có thể sử dụng vật liệu địa phương tại chỗ để cải thiện tính chất của nền đất yếu. Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 11 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Hình 1.1a- Sơ đồ điển hình mặt cắt ngang khi thiết kế thay đất Hình 1.1c- Thi công đào thay đất Căn cứ vào thời gian cố kết dự kiến, yêu cầu về độ ổn định nền đắp cần đạt được để tính toán chiều dày lớp đất cần thay thế. Khi kiểm toán thiết kế nền đất yếu bằng giải pháp thay đất, cần kiểm tra hai điều kiện: Biến dạng lún và ổn định trượt để xác định chiều dày thay đất, độ lún còn lại và độ ổn định trượt trước và sau khi thay đất.
Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 12 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Giải pháp thay đất thi công đơn giản, tăng khả năng ổn định của nền đất đắp, thường áp dụng trong các trường hợp khi thời hạn thi công ngắn; chiều cao đất đắp là không lớn; đặc trưng cơ lý, đặc biệt là sức chịu tải của đất yếu là rất nhỏ mà việc cải thiện nó bằng cố kết là không có hiệu quả để đạt được chiều cao thiết kế của nền đắp; đất yếu là than bùn loại I hoặc loại á sét dẻo mềm, dẻo chảy. Chiều dày lớp đất yếu dưới 2m nên đào bỏ toàn bộ lớp đất yếu để đáy nền đường tiếp xúc với tầng đất không yếu. Giải pháp này đã được áp dụng trên nhiều dự án như QL1A, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương, đường cao tốc Bến Lức – Long Thành.Giải pháp đắp trực tiếp và đắp dần theo thời gian.
Đắp trực tiếp chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đắp < chiều cao đắp giới hạn Hgh. Đắp dần theo giai đoạn là lợi dụng thời gian thi công cho phép để tăng chiều cao đất đắp trực tiếp lên trên trị số Hgh1. Lần đắp này gọi là giai đoạn 1, duy trì tải trọng đắp trong một thời gian để chờ đất yếu cố kết và tăng chiều cao đất đắp giới hạn Hgh2. Đến đây lại có thể chờ đắp giai đoạn 3 lên Hgh3.
Giải pháp này thi công đơn giản, kinh tế tuy nhiên đòi hỏi thời gian thi công kéo dài do chờ lún; phù hợp với chiều sâu đất đắp nhỏ (thường dưới 6m), chiều cao nền đắp dưới 3m và có thời gian thi công dài. Cần lưu ý quãng thời gian chờ cho phép (phụ thuộc vào tính toán dự báo cố kết), nếu không sẽ xảy ra các trường hợp như đắp xong từng giai đoạn nhưng không thấy lún hoặc chưa đắp đến Hgh nhưng lại xảy ra trượt trồi. Do vậy ngoài việc tính toán thiết kế cần thiết phải quan trắc lún thẳng đứng cũng như chuyển vị ngang của đất yếu trong thi công để có những điều chỉnh phù hợp. Ở nước ta giải pháp được áp dụng trên QL5, QL1, QL18… 1.
Giải pháp bệ phản áp [31] Giải pháp xử lý nền đất yếu bằng bệ phản áp là giải pháp cổ điển thường được áp dụng nhằm mục đích chính là tăng cường sự ổn định trượt của nền đường trong quá trình đắp cũng như trong quá trình đưa tuyến đường vào khai thác. Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 13 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Hình 1.2a - Bệ phản áp 1 cấp Hình 1.2b - Bệ phản áp 2 cấp Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 14 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Hình 1.2c - Bệ phản áp 2 cấp Khi dùng giải pháp bệ phản áp, không cần khống chế tiến trình đắp, vì vậy thi công đắp thân đường nhanh, tuy nhiên đòi hỏi diện tích chiếm dụng đất lớn đồng thời phát sinh độ lún phụ của bệ phản áp.
Bệ phản áp thường được áp dụng khi cường độ chống cắt của nền đất yếu nhỏ, không đảm bảo để xây dựng nền đắp theo giai đoạn, có khả năng xảy ra trượt trồi ở hai bên; thời hạn thi công ngắn, không đủ thời gian cố kết; chiều cao đất đắp tương đối lớn, độ ổn định không đạt yêu cầu và chiều sâu đất yếu tương đối lớn. Giải pháp này thường được áp dụng cho các đoạn đường đầu cầu, có chiều dài ngắn và diện tích đất xung quanh không được sử dụng. Giải pháp bệ phản áp đã được áp dụng trong xây dựng giao thông ở nước ta như tuyến QL1A (các đoạn đường đầu cầu), tuyến đường ven sông Lam, đường đầu cầu Hàm Rồng, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương… 2.Giải pháp đất có cốt. Đất có cốt là thuật ngữ chung liên quan đến việc sử dụng đất tại chỗ, đất nhân tạo hoặc vật liệu khác trong đó các cốt (cốt cứng hoặc cốt mềm) chịu kéo làm việc nhờ ma sát tiếp xúc, khả năng chịu đựng và các hiệu quả khác nhằm tăng cường ổn định.
Cốt thường đặt ở đáy nền đắp và trong thân nền đường làm tăng độ ổn định của nền đắp trên đất yếu chính là nhờ tác dụng ngăn ngừa vật liệu đắp dịch chuyển sang ngang, hạn chế đẩy trồi đất yếu. Do ứng suất cắt trượt truyền từ đất yếu và vật liệu đắp khiến cho cốt chịu kéo và nhờ có lực kéo đó mà nền đất ổn định. Giáo viên hướng dẫn: PGS. Lã Văn Chăm; 15 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Hình 1.3a – Giải pháp đất có cốt Giáo viên hướng dẫn: PGS.
Lã Văn Chăm; 16 Học viên thực hiên: Nguyễn Đăng Hoàng Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật; Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Hình 1.