Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói luôn là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương nông nghiệp. Vào năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Tứ Kỳ chiếm 11,70% và tỷ lệ cận nghèo là 6,91%, đưa địa bàn này trở thành huyện có tỷ lệ nghèo cao nhất tỉnh Hải Dương. Với đặc thù gần 80,00% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn và nguồn sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn khi đối mặt với rủi ro thiên tai và biến động thị trường.

Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của tác giả Đinh Lê Phạm Tuân tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo bền vững tại một địa phương thuần nông. Đề tài xác định các mục tiêu cụ thể gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về giảm nghèo, đánh giá toàn diện thực trạng giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2013 tại Tứ Kỳ, và đề xuất các giải pháp khả thi cho giai đoạn tiếp theo.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 26 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Tứ Kỳ với tổng diện tích tự nhiên 17.019,01 ha, tập trung vào chuỗi dữ liệu thực tế từ năm 2006 đến năm 2013 và định hướng đến năm 2020. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện duy trì trên 11,10% mỗi năm, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo địa phương xuống dưới mức bình quân 5,00% của toàn tỉnh Hải Dương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết đói nghèo của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1993), nhìn nhận nghèo đói là tình trạng không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người tùy theo trình độ phát triển của địa phương. Tác giả kết hợp mô hình "Vòng luẩn quẩn của đói nghèo" của nhà kinh tế học Ragnar Nurkse để phân tích mối tương quan giữa thu nhập thấp, mức tiết kiệm dưới 10,00%, dung lượng vốn đầu tư hạn chế và năng suất lao động kém.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và hộ cận nghèo. Nghiên cứu căn cứ trên chuẩn nghèo đa giai đoạn của Chính phủ, đặc biệt là Quyết định số 170/2005/QĐ-LĐTBXH (chuẩn nghèo nông thôn 200.000 đồng/người/tháng) và Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg nâng chuẩn nghèo nông thôn lên 400.000 đồng/người/tháng (tăng gấp 2,0 lần). Phương pháp tính toán dựa vào rổ hàng hóa tối thiểu 2.100 Kcal/ngày với 40 mặt hàng thuộc 16 nhóm thực phẩm kết hợp chi tiêu phi lương thực chiếm 40,00% tổng nhu cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế xã hội, số liệu của Chi cục Thống kê huyện Tứ Kỳ và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện trong giai đoạn 2006 - 2013. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra trực tiếp với bộ câu hỏi chuẩn hóa.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 160 hộ gia đình, bao gồm 100 hộ khảo sát chi tiết và 60 hộ điều tra nhanh bổ sung nhằm đánh giá nguy cơ tái nghèo. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo địa bàn địa lý 3 vùng: vùng khu hạ chọn 35 hộ tại xã Nguyên Giáp, vùng khu giữa chọn 35 hộ tại xã Minh Đức, và vùng khu đầu huyện chọn 30 hộ tại xã Kỳ Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh kinh tế và phân tích định lượng trên phần mềm Excel là nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu thu nhập, xác định mối quan hệ giữa trình độ học vấn, quy mô đất đai với mức sinh kế, từ đó đảm bảo độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Tứ Kỳ đạt mức bình quân 11,10% giai đoạn 2006 - 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực khi tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 54,00% năm 2005 xuống 38,50% năm 2013, trong khi ngành công nghiệp - xây dựng tăng mạnh từ 17,00% lên 31,50%.

Thứ hai, việc quy hoạch 4 cụm công nghiệp lớn với quy mô trên 100 ha mỗi cụm (như Ngọc Sơn - Kỳ Sơn 103,26 ha, Nguyên Giáp 102,64 ha) đã thu hút 67 dự án sản xuất, tạo việc làm mới cho 9.050 lao động, trong đó có hơn 6.000 lao động địa phương chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp may mặc và chế biến.

Thứ ba, khảo sát thực nghiệm 160 hộ dân chỉ rõ nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đói nghèo: 70,00% số hộ thiếu vốn sản xuất kinh doanh, 52,00% chủ hộ có trình độ văn hóa dưới trung học cơ sở và các hộ nghèo có quy mô nhân khẩu bình quân trên 4,5 người/hộ.

Thứ tư, an sinh xã hội có bước cải thiện đáng kể với tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 23,00% năm 2005 xuống 19,70% năm 2013, đồng thời toàn huyện đã có 28 trường học đạt chuẩn quốc gia.

Thảo luận kết quả

Thực trạng giảm nghèo tại Tứ Kỳ cho thấy dù tỷ lệ nghèo giảm nhanh nhưng tính bền vững chưa cao do thu nhập của đa số hộ cận nghèo nằm sát ngưỡng 400.000 đồng/người/tháng. Đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 9.876,52 ha trong tổng số 11.226,94 ha đất nông nghiệp, nhưng năng suất bình quân mới đạt khoảng 100 triệu đồng/ha/năm trên 195 cánh đồng mẫu lớn 2.700 ha.

Khi đối chiếu với bài học thực tiễn tại huyện Quỳnh Phụ (tỉnh Thái Bình) – nơi phát triển 35 làng nghề đạt giá trị 890 tỷ đồng thu hút 21.317 lao động, hoặc huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) quy hoạch 22.000 ha cây ăn quả đạt giá trị hơn 1.000 tỷ đồng, có thể thấy Tứ Kỳ chưa khai thác hết lợi thế hạ tầng 4 trạm bơm tiêu lớn (công suất trạm Đò Neo 8.000 m3/giờ) và tuyến tỉnh lộ 391.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ hộ nghèo giữa hai giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2013, kết hợp bảng cơ cấu phân bổ lao động 3 khu vực kinh tế và biểu đồ tròn phân tích tỷ trọng các nguyên nhân gây nghèo. Việc trực quan hóa dữ liệu giúp cơ quan quản lý thấy rõ điểm nghẽn về thiếu vốn và thiếu kỹ năng nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng nguồn vốn tín dụng chính sách ưu đãi. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Tứ Kỳ cần phối hợp với Ủy ban nhân dân 26 xã đơn giản hóa thủ tục giải ngân, nâng mức cho vay bình quân lên 30.000.000 đồng/hộ nghèo, đảm bảo 100% hộ nghèo có phương án sản xuất khả thi được tiếp cận nguồn vốn trong giai đoạn 2014 - 2020.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và thâm canh nông nghiệp hàng hóa. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tứ Kỳ cần chủ trì quy hoạch chuyển đổi 500 ha đất trũng sang mô hình lúa - cá và trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, phấn đấu nâng giá trị sản xuất bình quân đạt trên 120.000.000 đồng/ha/năm trước năm 2018.

Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Trung tâm Dạy nghề huyện Tứ Kỳ liên kết trực tiếp với 67 doanh nghiệp tại các cụm công nghiệp địa phương để tổ chức dạy nghề may công nghiệp, thêu ren và tiểu thủ công nghiệp cho 2.500 lao động nông thôn mỗi năm, cam kết tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 85,00% giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất. Ủy ban nhân dân huyện Tứ Kỳ tập trung nguồn lực kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương nội đồng cấp 1 và cấp 2, bảo dưỡng 4 trạm bơm tiêu trọng điểm nhằm chủ động tưới tiêu cho hơn 11.000 ha đất nông nghiệp trước mùa mưa bão năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý kinh tế và cán bộ làm công tác giảm nghèo tại 26 xã, thị trấn huyện Tứ Kỳ: Ứng dụng phương pháp đánh giá thực trạng thu nhập và quy trình rà soát hộ nghèo để xây dựng kế hoạch an sinh xã hội hàng năm sát với điều kiện thực tế của từng thôn xóm.

Thứ hai, ban lãnh đạo Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Tứ Kỳ: Sử dụng dữ liệu khảo sát 160 hộ để thiết kế các gói vay ưu đãi phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, kiểm soát dòng tiền vay đúng mục đích và giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 1,00%.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp: Khai thác mô hình nghiên cứu định lượng, phương pháp chọn mẫu phân tầng 3 vùng và khung phân tích lý thuyết vòng luẩn quẩn đói nghèo làm tài liệu tham khảo học thuật chất lượng cao.

Thứ tư, các hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức phát triển cộng đồng: Tham khảo cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực gồm 99.904 người trong độ tuổi lao động và hiện trạng 4 cụm công nghiệp để xúc tiến các dự án đầu tư nhà xưởng, tạo việc làm phi nông nghiệp cho cư dân địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản nào khiến huyện Tứ Kỳ có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 11,70% trong năm 2013? Tình trạng này xuất phát từ cơ cấu kinh tế có gần 80,00% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp quy mô nhỏ lẻ. Khảo sát 160 hộ cho thấy 70,00% hộ nghèo thiếu vốn làm ăn, trình độ canh tác lạc hậu và thường xuyên bị ngập úng do địa hình trũng thấp chịu ảnh hưởng triều cường từ sông Thái Bình và sông Luộc.

Chuẩn nghèo được luận văn áp dụng để đánh giá giai đoạn 2011 - 2013 căn cứ trên văn bản nào? Tác giả căn cứ theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định hộ nghèo nông thôn có thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống (tương đương 4.800.000 đồng/năm) và thành thị là 500.000 đồng/người/tháng trở xuống, tăng gấp 2,0 lần so với chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010.

Phương pháp chọn mẫu điều tra 160 hộ trong nghiên cứu được phân bổ cụ thể ra sao? Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái của huyện Tứ Kỳ: khu hạ điều tra 35 hộ tại xã Nguyên Giáp, khu giữa điều tra 35 hộ tại xã Minh Đức, khu đầu huyện điều tra 30 hộ tại xã Kỳ Sơn, cùng 60 hộ điều tra nhanh mở rộng.

Bài học thực tiễn từ các huyện điển hình mang lại gợi ý gì cho công tác giảm nghèo ở Tứ Kỳ? Kinh nghiệm phát triển 35 làng nghề tạo 890 tỷ đồng doanh thu của huyện Quỳnh Phụ và mô hình 22.000 ha cây ăn quả của huyện Lục Ngạn khẳng định Tứ Kỳ cần đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp, du nhập nghề tiểu thủ công nghiệp mới và liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm.

Các giải pháp giảm nghèo đề xuất trong luận văn có tính khả thi trong thực tế không? Các giải pháp hoàn toàn khả thi vì được xây dựng dựa trên hiện trạng 4 cụm công nghiệp quy mô lớn (như cụm Ngọc Sơn - Kỳ Sơn 103,26 ha) và hạ tầng 28 trường chuẩn quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa cho vay vốn ưu đãi với đào tạo nghề cho 2.500 lao động mỗi năm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc lý luận về quản lý kinh tế và tiêu chí xác định đói nghèo theo chuẩn mức sống 2.100 Kcal/ngày và mức thu nhập 400.000 đồng/người/tháng.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2006 - 2013, phân tích rõ biến động tỷ lệ hộ nghèo 11,70% và cận nghèo 6,91%.
  • Nhận diện chính xác 70,00% hộ nghèo thiếu vốn và hạn chế trình độ canh tác thông qua khảo sát thực nghiệm 160 hộ gia đình tại 3 tiểu vùng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp tín dụng ưu đãi, chuyển đổi 500 ha cây trồng giá trị cao và đào tạo nghề cho 2.500 lao động hàng năm.
  • Thiết lập lộ trình hành động cụ thể giai đoạn 2014 - 2020 nhằm kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo huyện Tứ Kỳ xuống dưới 5,00% bền vững.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Lê Phạm Tuân là công trình khoa học có đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận quản lý kinh tế lẫn thực tiễn hoạch định chính sách an sinh xã hội địa phương. Để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2014 - 2020, các cấp chính quyền, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác ngay nguồn tư liệu thực chứng này nhằm xây dựng các chương trình hành động thiết thực cho huyện Tứ Kỳ.