phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong Ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin ở Ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam-Techcombank. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam-Techcombank. 3 CHƢƠNG 1- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÂN HÀNG 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm về công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là tập hợp các phƣơng pháp khoa học, các phƣơng tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngƣời và xã hội.
Công nghệ thông tin là một ngành kỹ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoa học, công nghệ, điện tử, toán học, quản trị học.để thu thập, biến đổi, truyền tải, lƣu trữ, phân tích, suy luận, sắp xếp thông tin.phục vụ cho lợi ích của con ngƣời. Công nghệ thông tin (Information Technology) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin. CNTT phát triển qua nhiều giai đoạn, từ khi máy tính điện tử đầu tiên ra đời cho đến khi máy tính cá nhân (Personal Computer - PC) xuất hiện. Tiếp theo là giai đoạn phát triển của mạng máy tính và kỹ thuật số, nghiên cứu việc lƣu trữ và xử lý thông tin một cách tự động.Sau đó là sự phát triển của các công nghệ về máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng đã đạt đến đỉnh cao.
Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống mạng máy tính dùng chung cho toàn thế giới (Internet), khả năng ứng dụng của máy tính và mạng máy tính đã gần nhƣ không có giới hạn. Chúng đã trở thành phƣơng tiện, công cụ không thể thiếu của các hệ thống thông tin, hệ thống tổ chức. CNTT đã ra đời với tƣ cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin - CNTT là ngành công nghệ mũi nhọn Công nghệ mũi nhọn ở đây đƣợc hiểu là cái chóp của một kim tự tháp, có nghĩa là nó là ngành công nghệ đƣợc xây dựng trên thành quả của nhiều công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại. Do vậy, muốn xây dựng và phát triển một công nghệ mũi nhọn hoàn chỉnh phải phát triển từng bƣớc và phải lựa chọn thế đứng riêng của mình.
Mặt khác, đặc điểm của công nghệ mũi nhọn là luôn luôn nặng về tri thức, đó cũng là đặc điểm của CNTT. Vì vậy, để phát triển CNTT luôn cần nguồn nhân lực có trình độ cao. - CNTT là ngành có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh nhất Trong lịch sử phát triển của nhân loại, chƣa có ngành khoa học, công nghệ nào có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh nhƣ CNTT. Dƣới sự phát triển nhƣ vũ bão của CNTT, công nghệ cứ thay đổi liên tục.
Vì vậy, đối với các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cần lƣu ý khi lựa chọn các giải pháp về công nghệ. Nếu không, việc đầu tƣ hay định hƣớng sai công nghệ sẽ ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả đầu từ và gây lãng phí lớn. -CNTT là ngành khoa học có thể ứng dụng cho mọi lĩnh vực Giới hạn của những công nghệ khác thƣờng là không có khả năng kết hợp nhiều loại thông tin, phƣơng tiện với nhau. Ví dụ nhƣ với điện thoại chỉ có thể gửi và nhận âm thanh, vô tuyến truyền hình thì chỉ có nhận hình ảnh, âm thanh nhƣng không thể phản hồi, tƣơng tác.
Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành công cụ, phƣơng tiện cho các công nghệ khác. CNTT có thể tham gia trực tiếp vào trong quá trình sản xuất của các lĩnh vực nhƣ: công nghiệp, nông nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ, hoặc tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành của các hệ thống thông tin, hệ thống lãnh đạo, … CNTT còn tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các 5 ngành nghề thông qua hệ thống thƣơng mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phƣơng tiện. Ngày nay, CNTT vẫn đang tiếp tục phát triển và phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con ngƣời. - CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp Trong CNTT, nếu tính từ ngƣời sử dụng (ngƣời dùng đầu cuối) đến khâu sản xuất các thiết bị, vi mạch,.
ta sẽ thấy bên trong có nhiều tầng lớp và lớp trên đƣợc xây dựng dựa trên các lớp phía dƣới, chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về công nghệ. Càng lên cao, số lƣợng công nghệ có xu hƣớng càng tăng, sự phát triển của công nghệ của lớp này cũng thúc đẩy sự phát triển các công nghệ tƣơng ứng ở lớp khác và ngƣợc lại. Có thể chia CNTT thành năm tầng lớp theo sơ đồ sau: Ứng dụng tích hợp Ứng dụng cơ bản Phát triển ứng dụng Hệ thống Thiết bị Vi xử lý Hình 1.1: Sơ đồ về sự phân tầng của CNTT 6 (i) Lớp ứng dụng tích hợp, đây là lớp trên cùng gồm các ứng dụng đƣợc phát triển riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp nào đó. Các ứng dụng này do đơn vị sử dụng tự phát triển hoặc đặt gia công bên ngoài.
Chúng đƣợc phát triển dựa trên một hệ quản trị CSDL nào đó (MySQL, PosgreSQL, Oracle, SQL Server, DB2, …), thƣờng hoạt động qua mạng và có xu hƣớng phát triển theo dạng tích hợp, dùng chung cho cả hệ thống. (ii) Lớp ứng dụng cơ bản, là lớp đa dạng và phổ biến nhất hiện nay. Bao gồm các ứng dụng ở mức đơn giản, tổng quát để xử lý văn bản (OpenOffice, Microsoft Office, …) hoặc tính toán và quản lý đơn giản (SPSS, Microsoft Project, …); và cao hơn là các ứng dụng chuyên dùng dành riêng cho một lĩnh vực nào đó nhƣ tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học (SPSS, MathType, Matlab…). (iii) Lớp phát triển ứng dụng, các ứng dụng của lớp này thƣờng đƣợc dùng bởi các chuyên gia về phần mềm sử dụng để phát triển các ứng dụng của hai lớp trên, mục tiêu là hƣớng về ngƣời dùng đầu cuối.
Bao gồm các ngôn ngữ lập trình (C, java, Visual Basic, C#, php, …), các hệ quản trị CSDL, …. (iii) Lớp ứng dụng hệ thống, là những chƣơng trình, ứng dụng đặc biệt cho các ứng dụng của lớp trên có thể hoạt động hoặc giao tiếp với thiết bị phần cứng. Chủ yếu là hệ điều hành và hệ điều hành mạng (Microsoft Windows, Unix, Linux, Mac, Netware,. Đây thƣờng là các ứng dụng độc quyền (trừ các sản phẩm từ Linux), chúng có tầm ảnh hƣởng sâu rộng đến các tầng bên trên, đồng thời cũng quan hệ chặt chẽ về mặt công nghệ với các tầng bên dƣới.
(iv) Lớp thiết bị phần cứng, có thể coi nhƣ bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới. Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ: làm ra các bản mạch, rồi lắp ráp các linh kiện điện tử với phần điện, cơ khí, 7 các thiết bị ngoại vi,. để trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng. (v) Lớp vi xử lý, đây là lớp cuối cùng chính là việc sản xuất các linh kiện điện tử, các chíp vi xử lý.
Hiện nay, chỉ có Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn chỉnh tạo ra các sản phẩm của lớp này. Do công nghệ của các tầng lớp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi lựa chọn công nghệ ứng dụng cần lƣu ý các điều kiện sẵn có và xu hƣớng công nghệ của các tầng có liên quan. -Khả năng số hóa thông tin, tổ chức, lƣu trữ thông tin trên diện tích nhỏ; truy xuất và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác Đây là một đặc trƣng của máy tính điện tử nói riêng và CNTT nói chung. Có thể hiểu số hóa thông tin là khả năng biểu diễn thông tin dƣới dạng số 0 và 1, và lƣu lại trên các thiết bị lƣu trữ của máy tính.
Các thông tin đƣợc lƣu trữ dƣới dạng này gọi là thông tin số. Ƣu điểm của thông tin số chính là có thể mô tả chính xác thông tin, truy xuất nhanh và lƣu trữ đƣợc trên diện tích nhỏ. -Đầu vào là thông tin, đầu ra là thông tin hoặc tri thức. Nhƣ đã trình bày phần khái niệm, thông tin chính là đối tƣợng xử lý chủ yếu của CNTT.
Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của riêng ngƣời lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên những ngƣời trực tiếp quản lý quá trình sản xuất, những kỹ sƣ, những nhà công nghệ. Các sản phẩm đƣợc tạo ra từ CNTT có hàm lƣợng trí tuệ cao ngày càng tăng. Trong lĩnh vực phần mềm của CNTT, sản phẩm tạo ra có hàm lƣợng giá trị do trí tuệ kết tinh bên trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm.3 Vai trò của công nghệ thông tin đối với kinh tế, văn hóa và xã hội Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nƣớc phát triển đã bắt đầu bƣớc vào một nền văn minh mới đƣợc gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minh thông tin), lấy tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Các nƣớc sớm bƣớc vào nền Văn minh tri thức đã xác định bốn trụ cột của nền văn minh này đó là: CNTT, công nghệ nguyên liệu mới, công nghệ năng lƣợng mới và công nghệ sinh học.
Trong đó, CNTT đƣợc xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển và tạo dựng nền Văn minh tri thức. CNTT đóng vai trò là công nghệ chìa khoá trong hệ thống các công nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công nghệ lại với nhau, vừa là động lực phát triển chúng.