Chương 1 TỔNG QUAN VỂ PHÁT TRIỂN d ịc h v ụ c ủ a NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM) Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối vófi nền kinh tế. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về ngân hàng thương mại.
Tại Hoa kỳ Ngân hàng thương mại được định nghĩa là công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Tại Pháp thì Ngân hàng thương mại được quy định là những ngân hàng hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay những hình thức khác các khoản tiền mà họ dùng cho chính nghiệp vụ chiết khấu tín dụng hay dịch vụ tài chính khác. Còn luật sửa đổi bổ xung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (năm 2004) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Theo giáo sư Peter S.Rose trong cuốn quản trị ngân hàng thương mại, cách tiếp cận thận trọng nhất để phân biệt Ngân hàng với một tổ chức tài chính khác là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Theo đó, Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra; Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính trung gian lớn và quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở bất cứ quốc gia nào, là nơi mà tổ chức, đơn vị và cá nhân thường xuyên giao dịch nhất NHTM cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào trong nền kinh tế. 4 Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của Ngân hàng. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ ngân hàng íhương mại 1.
Khái niệm vê dịch vụ và dịch vụ ngân hàng Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ nhưng định nghĩa sau đây được coi là đầy đủ và khái quát nhất: Dịch vụ là một quá trình hoạt động. Quá trình đó diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Mỗi khâu, mỗi bước có thể là những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính. Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó.
Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Giá trị ở đây thoả mãn giá trị mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ thực hiện dịch vụ. Theo Philip Lotler, dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu không thể sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó.
Theo quan niệm phổ biến được dùng ở Việt Nam thì dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo ra những sản phẩm vô hình đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thoả mãn nhu cầu của con người và là một thành tố quan trọng trong GDP, được tiêu thụ ngay tại địa điểm sản xuất và thường không thể chuyển được. Nói đến NHTM người ta nghĩ ngay đến những dịch vụ gửi tiền, rút tiền, cho vay và thanh toán. Tuy nhiên, ngày nay dịch vụ Ngân hàng được mở rộng rất nhiều, ngoài những dịch vụ truyền thống còn có các dịch vụ mới được phát triển từ dịch vụ đã có. Sản phẩm của Ngân hàng thương mại được hiểu là những dịch vụ mà ngân hàng có thể tạo ra để cung cấp theo nhu cầu của khách hàng.
Vậy dịch vụ của NHTM là gì? Có thể định nghĩa về dịch vụ NHTM hay gọi tắt là dịch vụ Ngân hàng như sau: Dịch vụ Ngán hàng là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng có thê 5 tạo ra nhằm cung cấp làm thoả mãn vé nhu cầu của khách hàng vê dịch vụ tiên tệ, tài chính, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu nhập của Ngân hàng. Ở nước ta đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Có không ít quan niệm cho rằng dịch vụ Ngân hàng bao gồm hoạt động tín dụng và dịch vụ. Hoạt động dịch vụ là các nghiệp vụ về nhận tiền gửi, huy động vốn, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng là các nghiệp vụ thu phí (trừ phí bảo lãnh vì được tính vào hoạt động tín dụng). Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động Ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng. Trong một số năm gần đây, với yêu cầu của hội nhập quốc tế ngày càng trở nên khẩn trương hơn, quan niệm về dịch vụ ngân hàng đã được đổi mới theo thông lệ quốc tế. Theo đó, khái niệm dịch vụ Ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.
của Ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ Ngán hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ Ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho vay).
Quan niệm này được dùng trong phạm vi hẹp khi xem xét hoạt động của một ngân hàng cụ thể để có thể xem xét các dịch vụ mới của ngân hàng phát triển như thế nào cũng như cơ cấu của chúng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Vậy có thể hiểu dịch vụ Ngân hàng là bộ phận chủ yếu của dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính, do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình, bao gồm các nhân tố hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp, mà không có sự chuyển giao quyền sớ hữu.2, Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng + Dịch vụ Ngân hàng có đặc điểm không hiện hữu: Nó không tồn tại dưới dạng vật thể, nó là kết quả của một quá trình chứ không phải là một cái gì cụ thể có 6 thể nhìn thấy, đếm tích trữ và thử trước khi tiêu thụ. Tuy nhiên nó cũng được biểu lộ thông qua một yếu tố vật chất nào, đó chính là phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng như: địa điểm cung ứng dịch vụ, thái độ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên giao dịch, thời gian xử lý giao dịch. + Dịch vụ Ngân hàng có tính không ổn định và khó xác định chất lượng.
Nó mang tính cá biệt hóa trong cung ứng và tiêu dùng dịch vụ, phụ thuộc vào người cung ứng dịch vụ, người tiêu dùng dịch vụ và thời điểm thực hiện dịch vụ. Để thoả mãn tốt nhất đối với khách hàng việc thực hiện dịch vụ, Ngân hàng phải được tiến hành cá biệt hóa dựa vào việc hiểu rõ những mong muốn của mỗi khách hàng cá biệt. + Dịch vụ Ngân hàng có đặc tính không tách rời giữa quá trình tiêu dùng với quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ. Việc tiêu dùng dịch vụ Ngân hàng diễn ra cùng một lúc với quá trình cung ứng dịch vụ có sự tham gia trực tiếp của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào khi khách hàng cần tới.
Vì vậy, đảm bảo cung ứng dịch vụ Ngân hàng ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố khách hàng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng là hết sức quan trọng. Kết quả của dịch vụ đều bị ảnh hưởng từ 2 phía: Ngân hàng và khách hàng. Chính vì vậy để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, ngân hàng không chỉ quan tâm tới việc đảm bảo khả năng và kỹ thuật của Ngân hàng trong cung ứng dịch vụ, huấn luyện nhân viên Ngân hàng trong cách phục vụ và thao tác nghiệp vụ mà còn phải hướng dẫn cho khách hàng hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ Ngân hàng và có thái độ sẵn sàng phối hợp với cán bộ Ngân hàng hoàn tất quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ + Dịch vụ Ngân hàng là những sản phẩm không lưu trữ được: Dịch vụ Ngân hàng không thể sản xuất sẵn và lưu kho như các loại sản phẩm thông thường khác. Vì vậy, một sản phẩm Ngân hàng không được cung ứng đúng thời điểm sẽ là một sản phẩm “hỏng”.
Đó là lý do tại sao cần phải điều chỉnh đúng nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua như: rút ngắn quá trình xử lý nghiệp vụ, trang bị máy móc hiện đại có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện một giao dịch, tăng cường nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm, kéo dài thời gian cung ứng 24/24 giờ. Các loại dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại 7 1.1 Dịch vụ tiên gửi: Đây là dịch vụ quan trọng đối với mỗi Ngân hàng thương mại cũng như đối với nền kinh tế. Các NHTM thực hiện huy động vốn dưới các hình thức như: nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Hoạt động này là cơ sở tạo nguồn cho đầu tư, tiền quay trở lại lưu thông để đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế.
Tiền gửi bao gồm: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm. Xét về kỳ hạn, có tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.