Tổng quan nghiên cứu

Sạt lở bờ sông và suy thoái đất ven bờ đang là vấn đề môi trường cấp bách tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu. Tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, nơi có ba phần tư diện tích là đồi núi và là một trong ba khu vực có lượng mưa trung bình năm lớn nhất Việt Nam đạt 2.353,3 mm với 164,2 ngày mưa mỗi năm, tình trạng lũ quét và sạt lở bờ sông diễn biến hết sức phức tạp. Quá trình khai thác trắng rừng tự nhiên để chuyển sang rừng sản xuất đã làm suy giảm nghiêm trọng chức năng phòng hộ đầu nguồn và ven bờ. Theo các đánh giá môi trường, một hecta thảm thực vật ven sông bị suy thoái có thể làm lượng đất đá xói mòn trôi xuống dòng chảy lên tới 150 tấn mỗi năm trong mùa lũ, cao gấp 1.500 lần so với khu vực có rừng nguyên vẹn.

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Duyên tập trung giải quyết bài toán cấp thiết: xác định hiện trạng lập địa, xói mòn và đánh giá tri thức bản địa nhằm đề xuất giải pháp trồng rừng phòng hộ ven bờ sông và kênh rạch theo nguyên tắc gần với tự nhiên. Phạm vi không gian của đề tài giới hạn trong dải đệm 100m tính từ mép bờ sông Tiên Yên, trải dài trên tuyến khảo sát 15 km thuộc địa bàn hai xã Tiên Lãng và Yên Than.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về thảm thực vật, cấu trúc đất và động thái xói lở cho vùng ven sông Đông Bắc. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn để thiết lập các đai rừng phòng hộ sinh thái, giảm thiểu tốc độ sạt lở đất, bảo vệ hệ thống hạ tầng nông thôn và trực tiếp ổn định đời sống, sinh kế cho hơn 1.694 hộ gia đình sinh sống dọc lưu vực sông Tiên Yên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết vùng đệm ven bờ của Cục Bảo tồn Tài nguyên Thiên nhiên Hoa Kỳ (NRCS Planning and Design Manual) và các hướng dẫn môi trường của EPA. Khung lý thuyết này khẳng định vùng đệm ven bờ có chức năng giữ lắng cặn, bảo vệ bờ dốc, điều hòa nhiệt độ nước và chuyển hóa chất ô nhiễm, trong đó bề rộng vùng đệm từ 30m đến 50m có khả năng khử trên 85% lượng nitrat và hơn 78% lượng amoni trong dòng chảy mặt. Mô hình cấu trúc đai rừng phòng hộ ven sông tối ưu được tiếp cận theo cấu trúc ba vùng sinh thái kết hợp hài hòa giữa cỏ, cây bụi và cây thân gỗ bản địa.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết diễn thế phục hồi rừng nhiệt đới của Han Lamprecht và Whitmore, kết hợp với các nguyên tắc phân loại lập địa lâm nghiệp ba cấp của Lơ man. Hệ thống khái niệm trọng tâm bao gồm: vùng đệm ven bờ (riparian buffer zone), khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên (KNXTTS), làm giàu rừng theo rạch, và phân cấp trạng thái thảm thực vật rừng theo tiêu chuẩn Loeschau cùng Quy phạm kỹ thuật lâm sinh QPN 21-98 và QPN-84 của Bộ Lâm nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua khảo sát thực địa kết hợp điều tra xã hội học có sự tham gia của cộng đồng. Đề tài tiến hành trên tuyến khảo sát dài 15 km dọc sông Tiên Yên, gồm 10 km tại xã Yên Than và 5 km tại xã Tiên Lãng. Cỡ mẫu thực địa gồm 14 ô tiêu chuẩn (ÔTC) đại diện có diện tích 500 m2 (kích thước 20m x 25m), được bố trí cách nhau bình quân 1 km trong phạm vi 100m tính từ mép nước. Phương pháp chọn mẫu điển hình vạch tuyến được lựa chọn nhằm phản ánh đầy đủ các dạng lập địa, trạng thái rừng và mức độ sạt lở thực tế.

Trong mỗi ÔTC, nghiên cứu thiết lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 9 m2 tại 4 góc và vị trí trung tâm để đo đếm tầng cây tái sinh, cây bụi và thảm mục. Đồng thời, 14 phẫu diện đất kích thước 50cm x 120cm được đào để phân tích độ ẩm, độ xốp, độ chặt, thành phần cơ giới và độ pH. Động thái xói mòn đất được quan sát bằng mô hình cọc tam giác đều cạnh 50 cm với 50 điểm đo mỗi cạnh; tốc độ sạt lở mép bờ được đo đạc qua hệ thống mốc chuẩn cách bờ sông 5m và 7m sau mỗi chu kỳ 2 đến 3 trận mưa lớn. Đề tài thực hiện phỏng vấn 100 hộ dân và cán bộ địa phương bằng công cụ RRA và PRA. Dữ liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS, Excel, phần mềm Sinh khí hậu và số hóa bản đồ chuyên đề bằng MapInfo tích hợp GPS.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên thực vật trong dải 100m ven bờ sông Tiên Yên đang ở trạng thái nghèo kiệt và bị phân mảnh nghiêm trọng. Trạng thái rừng tự nhiên IIIA1 có trữ lượng lâm phần đạt 78,69 m3/ha, mật độ 640 cây/ha nhưng độ tàn che chỉ đạt 0,31. Các trạng thái phục hồi IIB có trữ lượng dao động từ 52,36 m3/ha đến 64,52 m3/ha với mật độ 480 đến 520 cây/ha; trạng thái IIA có trữ lượng rất thấp chỉ đạt 17,28 đến 17,49 m3/ha, mật độ 360 đến 420 cây/ha. Các trạng thái đất trống, đồi trọc IA, IB, IC có độ tàn che bằng 0, thực bì chủ yếu là cỏ tranh, lau lách và sim mua với chiều cao dưới 1,5m. Đối với rừng trồng, Tre mai đạt mật độ 960 cây/ha, Tre gai đạt 720 cây/ha và Keo tai tượng đạt 2.500 cây/ha với độ che phủ từ 80% đến 90%.

Thứ hai, đặc tính thổ nhưỡng khu vực phân hóa thành hai nhóm đá mẹ chính với tầng dày từ 47 cm đến 56 cm. Đất feralit đỏ vàng trên đá sét (Fs) chiếm ưu thế ở nhóm rừng tự nhiên, có độ xốp đạt 53% đến 62%, độ pH từ 5,2 đến 6,5, thành phần cơ giới thịt trung bình và độ phì khá. Ngược lại, đất feralit xám vàng trên đá cát (Fq) phân bố ở các trạng thái trảng cỏ và rừng trồng, có độ pH chua hơn từ 4,6 đến 5,5, độ xốp từ 50% đến 54%, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến cát pha, dễ bị rửa trôi khi mưa lớn.

Thứ ba, tốc độ sạt lở bờ sông có sự tương quan nghịch rõ nét với mật độ che phủ của thảm thực vật và độ dốc địa hình (dao động từ 12 độ đến 28 độ). Tại những vị trí bờ sông chỉ có trảng cỏ IA, IB hoặc đất canh tác hoa màu của người dân, bờ sông bị khoét sâu và sạt lở từ 1m đến 3m sau các đợt mưa bão tập trung vào tháng 7 và tháng 8 với lượng mưa vượt 445 mm/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng sạt lở nghiêm trọng ven sông Tiên Yên xuất phát từ áp lực dân sinh kinh tế của 1.116 hộ dân xã Tiên Lãng và 578 hộ dân xã Yên Than. Việc chặt phá cây gỗ ven sông lấy củi, canh tác nông nghiệp lấn sát mép nước và chuyển đổi rừng tự nhiên sang rừng sản xuất thuần loài đã triệt tiêu cấu trúc nhiều tầng tán có khả năng cản dòng lũ.

Khi tổng hợp dữ liệu lâm phần qua các bảng phân bố đường kính ngang ngực (D1.3 dao động từ 6 cm đến 15,73 cm) và chiều cao vút ngọn (Hvn từ 4m đến 10,81 m), có thể biểu diễn qua biểu đồ phân bố giảm dạng Meyer để thấy rõ cấu trúc tầng tán đang bị mất cân đối nghiêm trọng ở lớp cây gỗ lớn. So sánh với các nghiên cứu của NRCS và các công trình lâm sinh tại miền Bắc, khả năng giữ đất của bờ sông phụ thuộc trực tiếp vào mạng lưới rễ cây ở tầng đất mặt sâu 50 cm. Hai loài tre bản địa là Tre gai (Bambusa blumeana) và Tre mai thể hiện ưu thế vượt trội về khả năng cố định bờ dốc nhờ hệ rễ chùm chằng chịt và khả năng chịu ngập úng mùa lũ tốt hơn hẳn các loài cây gỗ thông thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng mô hình đai rừng phòng hộ ven sông ba vùng sinh thái với chiều rộng dải đệm tối thiểu từ 30m đến 50m tính từ mép nước. Vùng sát mép bờ (bề rộng 0 - 10m) tiến hành trồng dày Tre gai hoặc Tre mai với mật độ 700 đến 1.000 bụi/ha để tạo đê sinh học cản sóng và giữ đất; vùng đệm giữa (10 - 30m) trồng hỗn giao cây bản địa như Sau sau, Chẹo tía, Trám trắng, Lim xanh; vùng ngoài cùng (30 - 50m) phát triển mô hình nông lâm kết hợp với mật độ 1.600 cây/ha. Mục tiêu nâng độ tàn che toàn dải đệm lên trên 0,7 và giảm hơn 80% lượng phù sa xói mòn trong giai đoạn 2011 - 2015. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Tiên Yên phối hợp cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ.

Thứ hai, áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật làm đất và xử lý thực bì cục bộ theo đường đồng mức. Tuyệt đối cấm phát trắng và đốt dọn thực bì trên toàn tuyến dải ven sông dốc từ 12 độ đến 28 độ; chỉ phát dọn cục bộ theo rạch trồng cây rộng 1m đến 1,5m, giữ lại toàn bộ cây tái sinh mục đích. Đào hố trồng cây quy cách 40cm x 40cm x 50cm, tạo gờ giữ nước phía dưới dốc và bón lót 1 kg phân chuồng hoai mục kết hợp 70 gam supe lân cho mỗi hố. Thời vụ trồng tập trung vào đầu mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 6 nhằm đảm bảo tỷ lệ cây sống đạt trên 85%. Chủ thể thực hiện là các hộ gia đình nhận khoán đất lâm nghiệp dưới sự hướng dẫn của cán bộ khuyến nông.

Thứ ba, đẩy mạnh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng theo quy chuẩn QPN 21-98 cho 391,26 ha rừng sản xuất và các trạng thái rừng IIA, IIB ven sông. Định kỳ phát dọn dây leo, tỉa chồi xấu và trồng dặm bổ sung các loài cây gỗ quý với mật độ tái sinh mục đích đạt trên 400 cây/ha, chiều cao cây con trên 1m. Timeline thực hiện chăm sóc liên tục trong 3 năm đầu, mỗi năm từ 1 đến 2 lần. Chủ thể chịu trách nhiệm là Hạt Kiểm lâm huyện Tiên Yên.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách giao đất, giao rừng lâu dài gắn với sinh kế bền vững cho 100 hộ dân vùng dự án ven sông. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi, tập huấn kỹ thuật canh tác cây đặc sản dưới tán rừng và khai thác hợp lý lâm sản ngoài gỗ nhằm xóa bỏ hoàn toàn tập quán phá rừng làm nương rẫy trước năm 2013. Chủ thể chủ trì là Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tiên Yên phối hợp với chính quyền hai xã Tiên Lãng và Yên Than.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương tại các tỉnh miền núi, bao gồm Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm và UBND các huyện. Luận văn cung cấp căn cứ khoa học chuẩn xác để quy hoạch hành lang bảo vệ nguồn nước và thiết lập hệ thống đai rừng phòng hộ trên diện tích 1.044,7 ha đất lâm nghiệp Tiên Lãng và 628,16 ha đất lâm nghiệp Yên Than.

Nhóm 2: Kỹ sư lâm sinh và cán bộ kỹ thuật tại các ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp. Nhóm này có thể ứng dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật chọn loài cây chống sạt lở (Tre gai, Tre mai, Sau sau), kỹ thuật đào hố bón phân trên đất dốc từ 12 độ đến 28 độ và phương pháp khoanh nuôi phục hồi rừng theo tiêu chuẩn QPN 21-98.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Khoa học Lâm nghiệp, Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường. Tài liệu mang lại giá trị tham khảo cao về phương pháp quan trắc xói mòn thực địa bằng mô hình cọc tam giác 50 cm, kỹ thuật điều tra 14 phẫu diện đất feralit Fs, Fq và phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn trong chọn loài cây trồng.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và ban điều phối các dự án phát triển nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu. Bản luận văn là mô hình tham chiếu thực tế để thiết kế các can thiệp sinh kế dựa vào cộng đồng, tận dụng hiệu quả công cụ PRA/RRA trên mẫu điều tra 100 hộ dân tại các lưu vực sông có lượng mưa cao trên 2.000 mm/năm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công tác trồng rừng phòng hộ ven sông Tiên Yên lại mang tính cấp bách đặc thù so với các lưu vực khác?

Tiên Yên là địa bàn có lượng mưa trung bình năm thuộc nhóm cao nhất cả nước với 2.353,3 mm, tập trung tới 85% vào mùa mưa bão kết hợp địa hình đồi núi dốc từ 12 độ đến 28 độ. Sự suy giảm độ tàn che của rừng tự nhiên khiến lũ quét xuất hiện với tần suất lớn, làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đất canh tác và an toàn của hơn 1.694 hộ dân địa phương.

Bề rộng dải rừng phòng hộ ven sông Tiên Yên cần được thiết kế tối thiểu bao nhiêu mét để phát huy hiệu quả?

Dựa trên các nghiên cứu của NRCS và điều kiện thực địa lưu vực sông Tiên Yên trong phạm vi 100m khảo sát, dải rừng phòng hộ ven sông cần đạt bề rộng tối thiểu từ 30m đến 50m. Bề rộng này bảo đảm khả năng cản phá dòng lũ, giữ lắng cặn bùn cát và giúp thảm thực vật lọc sạch trên 85% lượng nitrat rửa trôi từ đất sản xuất nông nghiệp đổ ra lòng sông.

Những loài cây nào được chứng minh có khả năng phòng hộ chống xói lở tốt nhất tại khu vực nghiên cứu?

Tre gai và Tre mai là hai loài cây ưu việt hàng đầu nhờ hệ rễ chùm bám giữ đất mặt dày đặc, độ che phủ tán cao đạt 80% đến 90% và mật độ tự nhiên từ 720 đến 960 cây/ha. Bên cạnh đó, các loài cây gỗ bản địa như Sau sau, Chẹo tía và Trám trắng sinh trưởng rất tốt trên nền đất feralit Fs và Fq, tạo tầng tán vững chắc để duy trì cấu trúc đai rừng nhiều tầng.

Phương pháp phục hồi rừng nào mang lại hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cao nhất cho các dải đất ven sông nghèo kiệt?

Biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung cây mục đích theo quy phạm QPN 21-98 là tối ưu nhất. Phương pháp này tận dụng triệt để nguồn cây tái sinh có sẵn trên đất, chỉ dọn thực bì cục bộ theo rạch và bón lót phân hoai mục trong hố sâu 50 cm, giúp giảm hơn 40% chi phí đầu tư so với trồng rừng mới toàn diện.

Sự tham gia của cộng đồng địa phương quyết định như thế nào đến tính bền vững của đai rừng phòng hộ?

Khảo sát thực tế trên 100 hộ gia đình cho thấy người dân chỉ tích cực bảo vệ đai rừng khi quyền lợi kinh tế được bảo đảm. Việc giao đất gắn liền với mô hình nông lâm kết hợp, trồng xen cây đặc sản và cho phép khai thác hợp lý măng tre, quả trám sẽ tạo nguồn thu nhập ổn định 350 kg quy thóc/người/năm, từ đó triệt tiêu hành vi phá rừng ven bờ.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng suy thoái thảm thực vật trên tuyến khảo sát 15 km ven sông Tiên Yên, chỉ ra độ tàn che rừng tự nhiên rất thấp chỉ từ 0,24 đến 0,31 với trữ lượng nghèo kiệt từ 17,28 m3/ha đến 78,69 m3/ha.
  • Xác định rõ đặc tính lập địa của hai nhóm đất feralit chính Fs và Fq với tầng dày 47 - 56 cm, độ pH từ 4,6 đến 6,5, độ dốc 12 - 28 độ trong điều kiện lượng mưa bình quân 2.353,3 mm/năm.
  • Tuyển chọn thành công các loài cây ưu việt gồm Tre gai, Tre mai, Sau sau và Trám trắng để xây dựng dải rừng phòng hộ ven sông thích ứng sinh thái.
  • Đề xuất hoàn chỉnh mô hình đai rừng ba vùng với chiều rộng dải đệm 30 - 50m kết hợp các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cục bộ, làm đất theo đường đồng mức và khoanh nuôi tái sinh theo QPN 21-98.
  • Xây dựng cơ chế quản lý rừng có sự tham gia của 100 hộ dân địa phương nhằm gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu phòng hộ môi trường và nâng cao sinh kế bền vững.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa cơ sở dữ liệu thực nghiệm và quy trình kỹ thuật trồng rừng phòng hộ ven sông đầu tiên cho khu vực miền núi ven biển Đông Bắc. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung triển khai thí điểm mô hình đai rừng 30m tại hai xã Tiên Lãng và Yên Than giai đoạn 2011 - 2013, tiến tới nhân rộng toàn bộ lưu vực sông Tiên Yên trước năm 2020. Hãy liên hệ và hợp tác cùng các cơ quan lâm nghiệp địa phương ngay hôm nay để áp dụng giải pháp trồng rừng sinh thái, bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên đất và nguồn nước trước hiểm họa thiên tai.