CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về rủi ro tín dụng tại NHTM 1. Khái niệm về Rủi ro tín dụng Theo khái niệm của The World Bank, Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Theo khoản 1 Điều 3 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ban hành theo Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 của Thống đốc NHNN thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết’’.
Như vậy có thể nói rằng, rủi ro tín dụng luôn hiện hữu trong tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia hoạt động của mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Nếu rủi ro ở mức cho phép của quỹ phòng ngừa rủi ro của NHTM thì hậu quả sẽ dễ khắc phục, tuy nhiên, nếu rủi ro gây nên thiệt hại lớn, NHTM không xử lý được sẽ gây hậu quả không chỉ cho chính khách hàng, cho ngân hàng mà còn có thể dẫn đến biến động trong nền kinh tế. Nguyên nhân Rủi ro tín dụng Từ môi trường: Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh tế khác, hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương… Từ phía ngân hàng: Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định. Trong giới hạn đó, ngân hàng có khả năng giải quyết và sẵn sàng chấp nhận các rủi ro.
Ngoài ra, việc mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc sàng lọc khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát trong và 5 sau cho vay của cán bộ tín dụng giảm xuống. Thêm vào đó, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là nguy cơ rất cao xảy ra RRTD. Từ phía khách hàng: Nhiều khoản vay của khách hàng với mục đích đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm với những biến động của thị trường hoặc khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng. Thêm vào đó, sự trung thực từ khách hàng là rất quan trọng.
Hậu quả mà rủi ro tín dụng gây ra là khó lường, không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng, đến khách hàng mà còn có thể ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Do vậy, phòng ngừa và hạn chế RRTD không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Phân loại Rủi ro tín dụng Hình 1. 1: Phân loại rủi ro tín dụng dựa trên nguyên nhân phát sinh Rủi ro tín dụng Rủi ro giao Rủi ro danh dịch mục Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro nghiệp Rủi ro nội tại Rủi ro tập chọn đảm vụ trung Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành 2 loại chính như sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Trong đó: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 6 + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: Rủi ro nội tại và Rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. +Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng - Tốc độ tăng trưởng tín dụng Tốc độ tăng trưởng tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp RRTD. Tuy nhiên, nếu các Ngân hàng quá tập trung theo đuổi mục tiêu lợi nhuận khiến tín dụng tăng trưởng “nóng”, vượt quá sự kiểm soát của ngân hàng thì sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng sẽ dựa trên phần trăm doanh số cho vay và dư nợ vay của ngân hàng. Tỷ lệ tăng trưởng tín [Dư nợ năm t – Dư nợ năm (t-1)] = dụng Dư nợ năm (t-1) - Mức độ tập trung tín dụng Mức độ tập trung tín dụng tuy không phản ánh trực tiếp RRTD, nhưng nếu cơ cấu tín dụng của Ngân hàng quá tập trung vào một khía cạnh nào đó, thì khả năng 7 gây ra RRTD là rất cao.
Mức độ tập trung tín dụng có thể được chia theo các nhóm sau: o Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay: Cơ cấu tín dụng của Ngân hàng phải phù hợp với kỳ hạn vốn của Ngân hàng. Nếu Ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn mà lại tập trung cho vay trung và dài hạn, Ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn, cho vay với kỳ hạn dài hơn, dẫn đến rủi ro cao. Tỷ trọng dư nợ theo kỳ Dư nợ khách hàng kỳ hạn i = hạn Tổng dư nợ o Cơ cấu tín dụng theo ngành: Nếu ngân hàng tập trung cấp tín dụng cho các ngành có độ rủi ro cao thì khả năng ngân hàng không được hoàn trả vốn vay cũng cao. Hoặc khi cơ cấu tín dụng của Ngân hàng quá quá tập trung vào một ngành nghề, rủi ro của Ngân hàng không được phân tán, thì khi ngành đó suy thoái, Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
Tỷ trọng dư nợ theo Dư nợ theo ngành i = ngành/lĩnh vực Tổng dư nợ o Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo là nguồn trả nợ thứ hai của ngân hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng chi trả khoản nợ vay. Do đó, nếu tỉ lệ các khoản cho vay có tài sản đảm bảo thấp thì ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro mất vốn khi khách hàng không trả được nợ. - Nợ quá hạn/nợ xấu Số dư NQH Tỷ lệ NQH = Tổng dư nợ Nợ quá hạn là những khoản nợ mà bên đi vay không hoàn trả lại được cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán và không có đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường chất lượng tín dụng.
Các ngân hàng có chỉ số này thấp sẽ cho thấy được chất lượng tín dụng cao của mình và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong qui trình tín dụng, 8 còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định … Tỷ lệ nợ Số dư nợ xấu = xấu Tổng dư nợ Nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà xuất hiện khả năng không thu hồi lại được. Các khoản nợ này phát sinh là do ngân hàng thẩm định thiếu chính xác, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc cố ý không trả nợ…Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét RRTD của ngân hàng thông qua việc đánh giá cả thời hạn quá hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay.
Theo quy định của NHNN, nợ xấu là các khoản nợ được xếp từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu cho phép ở một NHTM là 3%. Vượt quá tỷ lệ này, NHTM phải xem xét lại danh mục đầu tư của mình. - Tỷ lệ trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng Dự phòng RRTD được trích lập = RRTD Dư nợ cho kỳ báo cáo Hệ số bù đắp Dự phòng RRTD được trích lập = RRTD Nợ quá hạn khó đòi Theo thông tư 09/2014/TT-NHNN về “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của Ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết vay.
Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ như sau: Bảng 1.