Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2021, tổng công suất lắp đặt các nguồn năng lượng tái tạo tại Việt Nam đã đạt 20.670 MW, chiếm khoảng 27% tổng công suất nguồn toàn hệ thống điện quốc gia (76.620 MW), đóng góp 31,508 tỷ kWh (tương đương 12,27% tổng sản lượng điện). Sự bùng nổ của các nguồn điện gió và điện mặt trời mang lại nguồn năng lượng sạch to lớn nhưng đồng thời tạo ra áp lực vận hành chưa từng có cho hệ thống truyền tải điện. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh khi các nguồn năng lượng này tập trung với mật độ rất cao tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, nơi có quy hoạch công suất lên tới khoảng 5.260 MW điện gió và 10.253 MWp điện mặt trời.

Sự bất cân đối nghiêm trọng giữa khả năng phát điện tại chỗ và nhu cầu phụ tải địa phương đã dẫn đến hiện tượng quá tải diện rộng trên các đường dây 500 kV và dàn tụ bù dọc có dòng định mức giới hạn 2.000 A. Điển hình như sự cố ngày 18/10/2020 khi phụ tải giảm xuống 21.000 MW, hệ thống đã buộc phải cắt giảm khẩn cấp hơn 1.000 MW công suất nguồn tái tạo; hay sự cố ngày 16/11/2020 ghi nhận mức công suất cắt giảm lên tới 745 MW nhằm giữ an toàn đường dây.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích hiện trạng lưới điện và đề xuất giải pháp tích hợp hệ thống pin lưu trữ điện năng (BESS) kết hợp mô hình dự báo công suất ngắn hạn để nâng cao hiệu quả vận hành và giải tỏa công suất. Phạm vi nghiên cứu bao trùm lưới truyền tải điện 500 kV, 220 kV và 110 kV tại 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông theo quy hoạch đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi giúp triệt tiêu mức quá tải 13,9% tại các máy biến áp trọng điểm, tối ưu hóa 100% công suất nguồn phát sạch và duy trì tần số lưới điện ổn định trong biên độ chuẩn 50 Hz ± 0,2 Hz.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng công suất và điều khiển ổn định hệ thống điện khi có sự thâm nhập sâu của các nguồn năng lượng tái tạo biến thiên. Tác giả áp dụng mô hình toán học dự báo bức xạ mặt trời và tốc độ gió kết hợp giữa phương pháp vật lý và phương pháp thống kê. Cụ thể, mô hình dự báo thời tiết số hóa (Numerical Weather Prediction - NWP) với khả năng mô phỏng điều kiện khí quyển trước 15 ngày được chuẩn hóa qua kỹ thuật thống kê đầu ra mô hình (Model Output Statistics - MOS), mạng nơ-ron nhân tạo và dữ liệu quan trắc từ vệ tinh địa tĩnh nhằm nâng cao độ chính xác dự báo bức xạ thêm 10% đến 15%.

Về mặt thiết bị lưu trữ, luận văn áp dụng khung lý thuyết cấu trúc và điều khiển hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) theo tiêu chuẩn quốc tế IEC 62933-5-2:2020. Các khái niệm then chốt được phân tích chuyên sâu gồm: bộ biến đổi công suất hai chiều (PCS) một tầng và hai tầng tích hợp khối DC/DC và DC/AC; trạng thái nạp sạc của pin (State of Charge - SOC); hệ thống điều khiển phát tự động (Automatic Generation Control - AGC); và cơ chế bám điểm công suất cực đại (MPPT). Bốn công nghệ pin chủ lưu được so sánh toàn diện gồm Lithium-ion, Axít-chì, Natri nhiệt độ cao và pin dòng chảy Vanadium Redox (VRB) với ưu thế vượt trội về mật độ năng lượng và khả năng phản hồi mili-giây.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đồng bộ từ các tài liệu quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn 2021 - 2025 của Bộ Công Thương, Sở Công Thương 3 tỉnh Tây Nguyên và số liệu đo đếm thực tế của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 84 dự án điện gió thương mại với tổng công suất 3.265 MW, cùng hàng chục nhà máy điện mặt trời quy mô lớn như cụm Xuân Thiện Ea Súp, Srepok 3. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích toàn diện đối với tất cả các nút trạm biến áp 500 kV (Pleiku, Pleiku 2, Đắk Nông) và các trục đường dây 220 kV - 500 kV liên kết Trung - Nam.

Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình hóa toán học và mô phỏng số trên phần mềm chuyên ngành DIgSILENT PowerFactory. Lý do lựa chọn phần mềm này là khả năng mô phỏng chính xác mô hình động lực học tuabin gió GE công nghệ máy phát nguồn kép (DFIG), tấm pin mặt trời quang điện nối lưới và cấu trúc điều khiển BESS trong cả chế độ xác lập 24 giờ lẫn chế độ quá độ. Timeline nghiên cứu khảo sát chi tiết chế độ vận hành theo chu kỳ ngày đêm điển hình trong mốc thời gian quy hoạch năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng và tính toán trên lưới điện truyền tải khu vực Tây Nguyên giai đoạn đến năm 2025 đã làm sáng tỏ 4 phát hiện kỹ thuật quan trọng:

Thứ nhất, trong kịch bản cơ sở khi chưa lắp đặt BESS, máy biến áp tại trạm biến áp 500 kV Pleiku 2 bị quá tải lên tới 13,9% vào khung giờ từ 10h00 đến 13h00 do trùng với thời điểm các nhà máy điện mặt trời phát công suất đỉnh cực đại.

Thứ hai, dòng điện truyền tải chạy qua các dàn tụ bù dọc 500 kV trên cung đoạn liên kết Trung - Nam đạt mức xấp xỉ 2.800 A đến 3.000 A, vượt ngưỡng định mức cho phép 2.000 A. Để bảo đảm an toàn hệ thống, điều độ viên bắt buộc phải cắt giảm công suất phát của các nhà máy năng lượng tái tạo từ 500 MW đến hơn 745 MW.

Thứ ba, sau khi bổ sung hệ thống BESS tại trạm 500 kV Ea Nam và trạm 500 kV Đắk Nông với chu trình sạc được kích hoạt trong khung giờ 09h00 - 14h00, hệ thống đã hấp thụ toàn bộ lượng công suất dư thừa, triệt tiêu 100% tình trạng quá tải máy biến áp và đưa hệ số mang tải về ngưỡng an toàn dưới 85%.

Thứ tư, khi BESS xả công suất ngược trở lại lưới điện vào khung giờ cao điểm tối từ 17h30 đến 20h30, điện áp tại tất cả các thanh cái 500 kV khu vực Tây Nguyên được cải thiện rõ rệt, duy trì ổn định trong dải quy chuẩn từ 1,02 pu đến 1,04 pu và giảm tổn thất công suất truyền tải toàn vùng khoảng 8,5%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nghẽn mạch bắt nguồn từ đặc tính phân bố phi đối xứng giữa vùng sản xuất điện lớn tại Tây Nguyên và trung tâm tiêu thụ chính tại miền Nam, cộng hưởng với độ lệch pha thời gian giữa đỉnh phát điện mặt trời giữa trưa và đỉnh phụ tải sinh hoạt chiều tối. Trên các biểu đồ trào lưu công suất 24 giờ và bảng dữ liệu mang tải trích xuất từ phần mềm DIgSILENT PowerFactory, đường cong phụ tải sau khi có BESS đã được làm phẳng tối ưu, thể hiện rõ vai trò dịch chuyển năng lượng và cắt đỉnh phụ tải.

So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào giải pháp tình thế là cắt giảm công suất hoặc xây dựng thêm đường dây mới, giải pháp tích hợp BESS điều khiển qua AGC chứng minh tính vượt trội toàn diện. Phương án xây dựng đường dây 500 kV mới thường kéo dài khoảng 5 năm với chi phí đền bù giải phóng mặt bằng rất lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro chậm tiến độ. Ngược lại, giải pháp lắp đặt BESS tận dụng 100% diện tích mặt bằng sẵn có tại các trạm biến áp hiện hữu, thi công nhanh chóng và đáp ứng công suất tức thời tính bằng mili-giây, giúp tăng cường quán tính hệ thống và nâng cao giới hạn truyền tải an toàn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Lắp đặt hệ thống pin lưu trữ BESS quy mô lớn tại các trạm biến áp then chốt: Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cần phê duyệt và triển khai xây dựng các cụm BESS công suất từ 50 MW/200 MWh đến 100 MW/400 MWh tại trạm 500 kV Ea Nam và trạm 500 kV Đắk Nông trong giai đoạn 2023 - 2025. Mục tiêu đặt ra là giải tỏa 100% công suất nghẽn mạch và xóa bỏ hoàn toàn mức quá tải 13,9% của máy biến áp 500 kV.

  2. Nâng cấp hệ thống dự báo công suất phát thời gian thực: Các chủ đầu tư nhà máy điện gió và điện mặt trời cần phối hợp cùng đơn vị điều độ trang bị hệ thống dự báo số hóa NWP kết hợp máy ảnh bầu trời và thuật toán trí tuệ nhân tạo, hoàn thành trong giai đoạn 2024 - 2026 nhằm kiểm soát sai số dự báo ngắn hạn ở mức dưới 5%.

  3. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế giá dịch vụ phụ trợ cho BESS: Bộ Công Thương và Cục Điều tiết Điện lực cần khẩn trương ban hành quy chuẩn kỹ thuật đấu nối BESS theo tiêu chuẩn IEC 62933, đồng thời xây dựng cơ chế giá điện hai thành phần và thị trường dịch vụ phụ trợ điều tần trước năm 2025 để thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân và FDI ước tính trên 5,7 tỷ USD vào lĩnh vực lưu trữ năng lượng.

  4. Ứng dụng thuật toán điều độ tự động AGC cho chu trình nạp xả: Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia cần tích hợp mô-đun điều khiển nạp/xả tối ưu của BESS trực tiếp vào hệ thống SCADA/EMS trước năm 2024, bảo đảm duy trì tần số lưới điện luôn ổn định ở mức 50 Hz ± 0,2 Hz và kiểm soát dao động điện áp nút không vượt quá 5% trong suốt chu kỳ vận hành 24/7.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Kỹ sư điều độ và chuyên viên vận hành hệ thống điện: Tiếp cận phương pháp tính toán trào lưu công suất 24 giờ và thuật toán điều khiển nạp/xả BESS qua hệ thống AGC để ứng dụng trực tiếp vào việc xử lý các tình huống quá tải máy biến áp và nghẽn mạch đường dây 500 kV trong ca trực vận hành thực tế.

  2. Chủ đầu tư và kỹ sư tư vấn thiết kế dự án năng lượng tái tạo: Nắm vững phương pháp lượng hóa thiệt hại kinh tế do cắt giảm công suất phát (với mức cắt giảm thực tế có thể lên đến 745 MW), từ đó xây dựng bài toán tài chính và giải pháp kỹ thuật tích hợp BESS sau công tơ nhằm tối ưu hóa 100% doanh thu bán điện hàng năm.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Khai thác các căn cứ thực chứng và luận cứ khoa học từ luận văn để tham mưu hoàn thiện Luật Năng lượng tái tạo, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật lưu trữ điện quốc gia và hiện thực hóa lộ trình trung hòa carbon vào năm 2050 theo cam kết tại COP26.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật điện: Sử dụng mô hình toán học chi tiết về tuabin gió GE, hệ thống quang điện mặt trời và phương pháp thiết lập phần mềm DIgSILENT PowerFactory làm tài liệu tham khảo giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về ổn định hệ thống điện tích hợp năng lượng tái tạo quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao các máy biến áp và đường dây 500 kV tại Tây Nguyên thường xuyên bị quá tải khi nguồn năng lượng tái tạo phát cao? Trả lời: Khu vực Tây Nguyên tập trung hơn 5.260 MW điện gió và 10.253 MWp điện mặt trời phát đồng thời vào ban ngày, vượt xa nhu cầu tiêu thụ nội vùng. Lượng công suất dư thừa dồn lên trục truyền tải 500 kV về miền Nam khiến máy biến áp Pleiku 2 quá tải 13,9% và dòng điện qua tụ bù vượt định mức 2.000 A.

Câu hỏi 2: Giải pháp lắp đặt hệ thống BESS có ưu điểm gì vượt trội so với việc xây dựng thêm đường dây truyền tải mới? Trả lời: Xây dựng đường dây 500 kV mới thường kéo dài khoảng 5 năm với chi phí đền bù giải phóng mặt bằng rất lớn. Ngược lại, BESS tận dụng 100% mặt bằng có sẵn tại các trạm biến áp hiện hữu, thi công nhanh trong vòng 12 tháng và có tốc độ phản hồi mili-giây giúp ổn định tần số tức thì.

Câu hỏi 3: Mô hình dự báo công suất phát đóng vai trò gì trong việc điều khiển chu trình nạp/xả của BESS? Trả lời: Mô hình dự báo số hóa NWP kết hợp ảnh vệ tinh giúp xác định chính xác công suất phát trước từ 1 giờ đến 15 ngày với sai số giảm 10% đến 15%. Dữ liệu này cho phép điều độ viên lập lịch sạc BESS đúng lúc thừa nguồn và xả vào cao điểm tối, tránh lãng phí dung lượng pin.

Câu hỏi 4: Việc cắt giảm công suất phát của các nhà máy năng lượng tái tạo gây ra những thiệt hại gì? Trả lời: Cắt giảm công suất (từng ghi nhận lên tới 745 MW ngày 16/11/2020 và 1.000 MW ngày 18/10/2020) gây thiệt hại tài chính nặng nề cho nhà đầu tư, làm tăng thời gian thu hồi vốn và lãng phí nguồn điện sạch, cản trở mục tiêu quốc gia giảm 45% phát thải khí nhà kính vào năm 2050.

Câu hỏi 5: Công nghệ pin nào được đánh giá là tối ưu nhất cho hệ thống BESS quy mô lưới truyền tải tại Việt Nam? Trả lời: Pin Lithium-ion và pin dòng chảy Vanadium Redox (VRB) là hai lựa chọn hàng đầu theo tiêu chuẩn IEC 62933 nhờ mật độ năng lượng cao, hiệu suất nạp xả trên 85% và tuổi thọ đạt từ 4.000 đến 10.000 chu kỳ, đáp ứng tốt cả hai nhiệm vụ điều tần và phủ đỉnh tải.

Kết luận

  • Luận văn đã giải quyết triệt để bài toán nghẽn mạch lưới truyền tải 500 kV Tây Nguyên khi tích hợp trên 15.000 MW nguồn năng lượng tái tạo thông qua ứng dụng hệ thống pin lưu trữ BESS.
  • Thiết lập thành công mô hình toán học và chu trình nạp/xả BESS tối ưu trên phần mềm DIgSILENT PowerFactory, triệt tiêu 100% tình trạng quá tải 13,9% của máy biến áp 500 kV và giải tỏa áp lực dòng điện 2.000 A trên các dàn tụ bù dọc.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện cơ chế điều độ AGC và quy hoạch hệ thống điện Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.
  • Lộ trình giai đoạn 2024 - 2026 cần khẩn trương triển khai dự án thí điểm BESS tại trạm 500 kV Ea Nam và ban hành khung giá dịch vụ phụ trợ hoàn chỉnh.
  • Các cấp quản lý, chủ đầu tư và kỹ sư vận hành hãy chủ động đón đầu công nghệ lưu trữ năng lượng, ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý lưới điện quốc gia.