CHƯƠNG I : HIỆN TRẠNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lý: Hình 1.HCM với tổng diện tích là 2,095 km², ở vị trí 10o10’-10o38’ Bắc và 106o02’-106o54’ Đông; nằm ở trung tâm Nam Bộ, Bắc giáp Bình Dương, Tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đông Nai, Đông Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp Long An, Tiền Giang, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ Biển là 15km; là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của thế giới với tất cả các loại hình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và hàng không.2 Dân số, việc làm Dân số: TP.HCM có 18 quận nội thành, gồm các quận 1 đến quận 12, Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Tân Phú, Bình Thạnh và 5 huyện ngoại thành, bao Trang 11 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT gồm huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Theo số liệu thống kê năm 2011, dân số TP.138 người và mật 3.590 người/km².
Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người. Lý do mức tăng dân số thành phố tăng nhanh là do dân nhập cư từ các tỉnh khác về đây học tập và làm việc. Điều này gây nhiều áp lực lên quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố đặc biệt là hệ thống giao thông. Dân số, mật độ dân số các quận, huyện thuộc TP.HCM năm 2011 Diện tích Mật độ Quận, huyện Phường – xã (km2) Dân số (người) (người/km2) Cả thành phố 322 2095 7.590 Quận nội thành 259 494 6.423 Quận Tân Bình 15 22,38 430.229 Quận Tân Phú 11 16,06 419.104 Quận Bình Thạnh 20 20,76 479.109 Quận Phú Nhuận 15 4,88 175.990 Quận Thủ Đức 12 47,76 474.936 Quận Bình Tân 10 51,89 611.778 Huyện ngoại thành 63 1601 1.321 857 Huyện Củ Chi 21 434,5 362.326 Huyện Bình Chánh 16 252,69 465.841 Huyện Nhà Bè 7 100,41 109.095 Huyện Cần Giờ 7 704,22 70.499 100 Nguồn: Cục thống kê TPHCM - http://www.vn [1] Trang 12 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT Trong khi các quận trung tâm (quận 3,4, 5 hoặc 10, 11) có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì các quận giáp khu vực trung tâm (quận 2, 9) chỉ khoảng hơn 2.000 người/km².
Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ khoảng 100 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, theo số liệu tính đến năm 2011 thì trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên là 9,79‰ thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 19,86‰. Ngoài ra, ước tính có khỏang 2 triệu dân nhập cư và khách vãng lai hiện đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP. Việc làm: Tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động ở TP.HCM rất cao và chiếm tới 65% (ở Hà Nội là 57%).
Lý do cho điều này là do thành phố có nhiều dân nhập cư và đa số ở độ tuổi lao động. Về kinh tế TP.HCM là trung tâm kinh tế, công nghiệp của cả nước, chiếm hơn 50% tổng giá trị sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 22-30% tổng giá trị sản phẩm quốc gia, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình trên 11% trong suốt hai thập kỷ vừa qua.HCM thực sự là trung tâm kinh tế, là đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế của Việt Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dương, đóng góp một tỷ lệ lớn cho ngân sách quốc gia. Tốc độ tăng trưởng kinh tế TP bình quân 5 năm gần đây chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu đề ra (12% trở lên), nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung của tình hình kinh tế. Về GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 3.130 USD trong khi cả nước chỉ đạt 1.
Tăng trưởng kinh tế hàng năm tại TP.HCM và toàn quốc TP.HCM Cả nước Năm GDP trên đầu Mức tăng GDP trên đầu Mức tăng người (USD) GDP (%) người (USD) GDP (%) 2007 2.300 5,89 Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM [1] Trang 13 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT Mặc dù TP.HCM có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, kinh tế phát triển đã kéo theo nhu cầu về vận tải (hàng hóa và hành khách) và số lượng phương tiện tăng nhanh, tạo áp lực lên kết cấu hạ tầng giao thông đô thị. Văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" không những là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng. Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Đông, phương Tây, giữa nhiều vùng miền trong cả nước.
Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn bậc nhất của cả nước (Nguồn: http://www. Tuy nhiên, văn hóa giao thông của người dân thành phố vẫn còn nhiều vấn đề cần được chấn chỉnh, đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình ùn tắc giao thông rong những năm qua. Hiện trạng quan hệ phát triển kinh tế và an toàn giao thông 1.4 Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thương mại Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn cả năm 2011 là 10,3. Trong đó, giá trị tăng thêm khu vực nông lâm thủy sản đạt 5.552 tỷ đồng, chiếm 1,1% GDP, tăng 6%.
Giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 224.378 tỷ Trang 14 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT đồng chiếm 44,6% GDP, tăng 9,9%; trong đó công nghiệp tăng 9,9% (giá trị sản xuất tăng 11,7%) ; xây dựng tăng 10,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm ước đạt 739.222 tỷ đồng, tăng 11,7% so năm trước (năm 2010 tăng 13,5%). Trong đó: công nghiệp nhà nước chiếm 14%, tăng 3,3%; công nghiệp ngoài nhà nước chiếm 47,9%, tăng 13,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 38,1%, tăng 14,4%. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ đạt 273.297 tỷ đồng chiếm 54,3% GDP tăng 10,7%.
Trong đó: ngành thương nghiệp tăng 9,2%, ngành khách sạn nhà hàng tăng 7%, vận tải bưu điện tăng 12,1%, ngành tài chính – tín dụng tăng 12,1%. Các ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng, du lịch, bưu chính-viễn thông, vận tải- dịch vụ cảng-kho bãi có tốc độ tăng trưởng cao, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố đang đi đúng hướng nhằm gia tăng tỷ trọng của các nhóm ngành dịch vụ, phát huy tiềm năng thế mạnh của trung tâm tài chính, dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đặc biệt là tận dụng cơ hội phát triển các lĩnh vực này trong những năm đầu Việt Nam gia nhập WTO. Về thương mại: TP.HCM có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng.
Những năm gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza, Vincom, Pakson. và đa số đều năm trong khu vực trung tâm thành phố. Mức tiêu thụ của TP.HCM cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội. (Nguồn: Cục thống kê TP.
Tổng sản phẩm trong nước theo ngành nghề Trang 15 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT b. Phát triển công nghiệp: Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, TP.HCM sẽ có 22 KCX-KCN với tổng diện tích khoảng 5. Hiện nay, TP.HCM đang có 3 KCX và 12 KCN với tổng diện tích là 3. Hầu hết các khu này đều có tỷ lệ đất cho thuê từ đất 60% - 100% trên tổng diện tích đất cho thuê.
Để có thể quản lý được các KCN và KCX này và cũng để khuyến khích đầu tư, thành phố đã thành lập Ban quản lý các KCN và chế xuất TP. Về tình hình phát triển, các KCN và KCX nằm gần trung tâm thành phố phần lớn đã được sử dụng trong khi các KCN nằm ở xa lại gặp khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư. Bên cạnh các KCN và KCX, thành phố cũng đã xây dựng công viên phần mềm Quang Trung thuộc Quận 12. Hiện vẫn còn nhiều nhà máy nằm sâu trong khu vực nội thành, gây ảnh hưởng tới môi trường, gây ô nhiễm không khí, nước và tiếng ồn.
Nhằm di dời các nhà máy này, chính quyền thành phố đã lập kế hoạch và triển khai di dời ra khỏi khu dân cư từ năm 2003. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa di dời xong. Các KCN-KCX hầu hết không đầu tư cho hệ thống hạ tầng xã hội cho công nhân làm việc (nhà ở, nơi sinh họat, chợ…) mà giao phó cho chính quyền địa phương và bản thân người công nhân, do đó đã phát sinh nhiều bất cập trong quản lý xã hội và giao thông đô thị. Ở các tỉnh lân cận việc phát triển các KCN-KCX cũng đang được chính quyền nơi đây đầu tư mạnh mẽ, ở phía nam tỉnh Bình Dương có 13 KCN đã và đang được xây dựng dọc theo các tuyến QL và tỉnh lộ, hầu hết đều tập trung gần với TP.HCM; tỉnh Đồng Nai, có 8 KCN đã và đang được xây dựng, chủ yếu nằm ở khu vực ngoại ô thành phố Biên Hòa và dọc Quốc lộ 51; Tỉnh Long An cũng đã triển khai xây dựng 10 KCN nằm dọc các hành lang vận tải chính, các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ, các trục đường thủy nối tới TP.5 Hiện trạng sử dụng đất.
Hiện trạng sử dụng đất được chia theo đất thổ cư, đất công nghiệp, đất nông nghiệp và vùng đất sông, kênh. Tình hình sử dụng đất có những đặc điểm chính sau: a. Khu vực nội đô: Hầu hết các khu vực đều đã được xây dựng kín thành các khu vực dân cư và khu vực thương mại, ngoại trừ một số khu vực ngoại vi ở quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, quận 6 và quận 8. Thành phố có hai khu vực thương mại dịch Trang 16 Nguyễn Văn Ngọc Luận Văn Thạc Sỹ KHKT vụ chính là Quận 1, quận 3 và giữa quận 5 và quận 6.