CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA NGÀNH DET MAY XUAT KHẨU VIET NAM 1. Cơ sở lý luận Những nhân tố quan trọng tác động tới thành công của một ngành sản phẩm đã được các nhà kinh tế học nổi tiếng của thế giới đề cập và phân tích trong các mô hình lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh quốc gia và chuỗi giá trị. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh — David Ricardo (1772-1783) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và gọi kết qua này là quy luật lợi thé so sánh — là lợi thé dat được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập chung chuyên môn hóa sản xuất và trao đối những mặt hàng có bat lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Dé xây dựng quy luật lợi thé so sánh, David Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hóa mô hình trao déi trong mau dịch, các giả định đó là: - Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất 2 lợi sản phâm - Mậu dịch tự do - Lao động có thê chuyên dịch tự do trong một quốc gia nhưng không có khả năng chuyên dịch giữa các quốc gia - Chi phí sản xuất là có định - Không có chi phí vận chuyển - Chi phí sản xuất được đồng nhất với tiền lương Từ đó có thé tóm tắt nội dung lý thuyết lợi thé so sánh bao gồm: — Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.
Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khâu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế. — Những nước có lợi thé tuyệt đối hoàn toàn hơn han các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thê và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Đề có thé hiểu rõ hơn, vi dụ chúng ta xem khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Mỹ đối với hai sản phẩm là Thép và Quan áo, trong đó Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyên tự do giữa các ngành san xuất trong nước.1: Chỉ phí sản xuất và lợi thế tuyệt đối , Chi phi lao động San pham My Viét Nam Thép (1 don vi) 4 24 Quân áo (1 đơn vi) 10 12 Nguồn: Tham khảo Giáo trình Kinh té Quốc tế của Đỗ Đức Binh, Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012. Qua bảng số liệu cho thấy Mỹ cần ít lao động để sản xuất cả 2 mặt hàng, do đó, Việt Nam không có kha năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Mỹ.
Song nếu chúng ta phân tích theo giá cả tương đối giữa 2 hàng hóa này, thì lại khác: Bảng 1.2: Giá tương đối và lợi thế so sánh Giá tương đôi Mỹ Việt Nam Thép/Quân áo 0,4 2 Quân áo/Thép 2.5 0,5 Nguồn: Tham khảo Giáo trình Kinh tế Quốc tế của Đồ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012. Nhận xét theo giá tương đối giữa thép và quần áo thì Việt Nam có lợi thế hơn trong sản xuất quần áo, còn Mỹ có lợi thế hơn trong sản xuất thép. Nếu Mỹ sử dụng 10 đơn vị lao động dé sản xuất ra 2,5 đơn vị thép (thay vi 1 đơn vị quan áo) và nếu tỉ lệ trao đôi quốc tế bằng đúng giá tương đối của Việt Nam (1 don vi thép trao đôi được 2 đơn vị quần áo) thì khi trao đôi 2,5 đơn vi thép với Việt Nam, Mỹ sẽ có 5 đơn vị quần áo (tăng lợi ích thêm 4 đơn vị quần áo). Ngược lại, nếu Việt Nam sử dụng 24 đơn vi lao động dé sản xuất 2 đơn vi quan áo (thay vì 1 đơn vị thép) và trao đổi với Mỹ thì Việt Nam sẽ có 5 đơn vị thép (với tỷ lệ trao đổi bằng giá tương đối tại Mỹ: 1 đơn vị quần áo trao đối được 2,5 đơn vị thép).
Nhu vậy Mỹ cũng thu được lợi ích tăng thêm là 4 đơn vi thép. Điều này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu quần áo sang Mỹ và nhập khẩu thép từ họ. Khi đó, cả 2 quốc gia đều tăng được thêm lợi ích từ trao đôi thương mai. Mô hình của David Ricardo cho thấy lợi ích khi các quốc gia trao đôi thương mai: các quốc gia sẽ xuất khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối có hiệu quả hơn và nhập khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả.
Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở cửa hội nhập đang mở ra cho xuất khẩu Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức. Vi thế, Việt Nam cần biết những lợi thé so sánh của minh dé từ đó phát huy, nhằm gia tăng giá trị xuất khâu của hàng Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cau. Mô hình kim cương của Michael Porter Trong tác phâm "Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990, Michael Porter vận dụng những co sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vao lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nỗi tiếng là mô hình “Viên kim cương”. Theo Michael Porter không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành.
Các quốc gia chỉ có thé thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tao va sự năng động của ngành của quốc gia đó. Khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố. Các nhóm yếu tô điều kiện đó bao gồm: - Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất - Điều kiện về nhu cầu: - Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan - Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành Cả bốn yếu tổ này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia.
Ngoài bốn yếu tô chính kể trên còn có hai yếu tô nữa là vai trò của Chính phủ và Cơ hội kinh đoanh. Các điêu kiện Các điêu kiện dau vào sản xuat nhu câu Các ngành hỗ trợ và cóliênquan |&———x( Chínhphủ `) Biểu 1.1: Mô hình kim cương của Michael Porter Nguôn: Tham khảo sách “Chiến lược cạnh tranh quốc gia” của Michael Porter, Nxb DT Books và Nxb Trẻ > Diéu kiện về các yếu tổ dau vào sản xuất. Michael Porter phân các nhân tố đầu vào thành hai nhóm: các nhân tô sản xuất cơ bản và các nhân tố sản xuất tiên tiến. Các nhân tố sản xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn, vốn, các điều kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng.
Một số quốc gia xuất khâu sẽ sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban đầu. Các nhân tố sản xuất tiên tiễn còn gọi là các yếu tố chuyên sâu là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yêu tố chuyên môn hóa, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Các nhân tố này thường được hình thành trên cơ sở 10 nhóm các yếu tô cơ bản thông qua các hoạt động đào tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát trién.Porter, các nhân tố tiên tiễn có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn so với các yếu tố cơ bản. > Diéu kiện về nhu cầu.
Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Thị trường trong nước cũng như nước ngoài có những đồi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc day các công ty thường xuyên cải tiến và đôi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tôn tại và phát triển. Các sản phẩm được sản xuất ra được tiêu chuẩn hóa ngày càng cao và có tính chất quốc tế. Vì vậy, các yêu cầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ càng ngày càng cao gan với nhu cau của thị trường quốc tẾ, tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành tại một quốc gia.
> Nhóm các ngành hỗ trợ và có liên quan. Khả năng cạnh tranh của một ngành nói riêng và khả năng cạnh tranh của một quốc gia nói chung phụ thuộc rất lớn vào các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan bởi vì các công ty này năm trong ngành không thé tồn tại một cách tách biệt với các công ty của các ngành công nghiệp khác. Các ngành công nghiệp hỗ trợ thường là các ngành cung cấp các đầu vào cho ngành có khả năng cạnh tranh cao. Khi một ngành công nghiệp nổi lên với khả năng cạnh tranh hùng mạnh thì sẽ làm xuất hiện một loạt các ngành hỗ trợ và các ngành có liên quan đến ngành công nghiệp nổi lên đó.
Các mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các ngành giúp cho các ngành phát huy được thế mạnh kết hợp, tăng được khả năng cạnh tranh của từng ngành. 11 > Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành. Chiến lược của công ty, cơ cấu của một ngành công nghiệp, tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành tại thị trường nội địa có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh của công ty đó trong tương lai, góp phan tao lợi thé cạnh tranh cho nền kinh tế nước mà công ty đó sinh ra. > Vai trò cua Chính phủ.
Vai trò của Chính phủ là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế.