phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, nội dung chính của đề tài đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng I. Cơ sở lý luận về marketing trong dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt. Chƣơng II: Phân tích, đánh giá thực trạng trong công tác vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở Công ty TNHH Một Thành Viên Xe Khách Sài Gòn. Chƣơng III.
Một số giải pháp thu hút hành khách đi lại bằng xe buýt ứng dụng cho Công ty TNHH Một Thành Viên Xe Khách Sài Gòn. 6 Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MARKETING DỊCH VỤ VẬN TẢI. Khái niệm về marketing: Marketing bắt nguồn từ một thuật ngữ tiếng Anh, nghĩa đen của nó là “làm thị trƣờng”, có nhiều cách hiểu và định nghĩa về marketing.
Ban đầu, theo khái niệm đơn giản thì marketing chỉ giới hạn trong lĩnh vực thƣơng mại. Toàn bộ hoạt động marketing chỉ là để bán hàng, tiếp thị nhằm mục đích tiêu thụ nhanh chóng hàng hóa và dịch vụ đã đƣợc sản xuất ra (tức là tiêu thụ những sản phẩm đã có sẵn) để thu đƣợc lợi nhuận cao. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới, cách hiểu và vận dụng các hoạt động nhƣ trên đã không đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tiễn. Khái niệm về marketing đã đƣợc mở rộng hơn với những đặc trƣng: - Coi thị trƣờng là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa.
- Trên thị trƣờng, ngƣời mua (tức là nhu cầu của thị trƣờng) có vai trò quyết định đến sản xuất; nhu cầu là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh. - Nhu cầu có ảnh hƣởng quyết định đến sản xuất hàng hóa và bán hàng để thỏa mãn nhu cầu đó, tức là bán cái mà khách hàng cần chứ không phải là bán cái mà ta có. Ngày nay, marketing hiện đại bao gồm tất cả các hoạt động và tính toán mục tiêu, ý đồ chiến lƣợc từ trƣớc khi sản xuất ra sản phẩm cho đến những hoạt động sản xuất, tiêu thụ và những dịch vụ sau bán hàng. Nhƣ vậy, Marketing là một dạng hoạt động của con ngƣời nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi.
Nói cách khác, marketing là một quá trình quản lý mang tính chất xã hội, nhờ đó mà các cá nhân, tập thể có 7 đƣợc những gì họ cần và họ muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với ngƣời khác. Định nghĩa về marketing chính là dựa trên trình tự của các yếu tố: - Nhu cầu mong muốn và yêu cầu; - Sản phẩm, chi phí và sự hài lòng; - Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ; - Marketing và ngƣời làm marketing; - Thị trƣờng. Trình tự trên có thể đƣợc phác họa theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Trình tự các yếu tố của Marketing Nhu Giá trị Trao đổi, Marketing cầu Sản chi phí giao dịch và ngƣời Thị mong phẩm sự hài và các mối làm trƣờng muốn lòng quan hệ maketing Nhiệm vụ chủ yếu của marketing là chuyển hóa những nhu cầu của xã hội thành những cơ hội sinh lợi nhuận. Vai trò, chức năng và đặc điểm của marketing: a) Vai trò của marketing: Đối với doanh nghiệp, marketing có tác dụng hƣớng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nhờ có hoạt động marketing, các quyết định đề ra trong sản xuất kinh doanh có cơ sở khoa học vững chắc hơn, doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ, thỏa mãn hơn các nhu cầu của khách hàng, marketing sẽ xác định rõ phải sản xuất cái gì, bao nhiêu, đặc điểm của sản phẩm nhƣ thế nào, sử dụng nguyên vật liệu gì, giá cả thế nào…Mặt khác, trong doanh nghiệp, marketing còn là công cụ quan trọng nhất giúp họ hoạch định chiến lƣợc sản xuất kinh doanh, chiến lƣợc thị trƣờng và chiến lƣợc cạnh tranh. Với hệ thống chính sách của mình marketing không chỉ giúp cho các nhà sản xuất kinh doanh lựa chọn phƣơng án đầu tƣ, tận dụng triệt để thời cơ kinh doanh mà còn giúp họ xây dựng đƣợc chiến lƣợc cạnh tranh và sử dụng vũ khí cạnh tranh có hiêụ quả nhằm nâng cao uy tín, chinh phục khách hàng và tăng cƣờng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. 8 b) Chức năng của marketing: Thông qua việc nghiên cứu, phân tích nhu cầu, thị hiếu của thị trƣờng bao gồm cả nhu cầu thực tế, nhu cầu tiềm năng, nhu cầu lý thuyết. Một trong những chức năng và nhiệm vụ cơ bản của hoạt động marketing là phải đẩy mạnh quá trình tiêu thụ, mở rộng thị trƣờng, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo nên sự phát triển nhận thức của ngƣời tiêu dùng về một mặt hàng nào đó, tạo ra ham muốn và kích thích mua hàng của khách hàng.
c) Một số đặc điểm cơ bản của marketing: Nếu đi sâu vào phân tích, thực hành marketing trong các ngành nghề khác nhau, các hình thức khác nhau, các quốc gia khác nhau. ngƣời ta luôn luôn tìm thấy một số đặc điểm phổ biến của marketing.2: Một số đặc điểm cơ bản của marketing ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA MARKETING Hiểu biết sâu Định hƣớng Định hƣớng Định hƣớng sắc những ý các nhóm khách đổi mới dài hạn muốn của hàng xác định - Sản phẩm mới - Phân tích thị khách hàng - Nghiên cứu thị Khai thác thị trƣờng tiêu Cung ứng sản trƣờng. trƣờng mới. phẩm đáp ứng - Phân đoạn thị - Quảng cáo.
- Khai thác mong muốn của trƣờng và xác định triệt để và lâu khách hàng thị trƣờng mục tiêu. dài các thị trƣờng tiêu thụ. Phân loại marketing: * Phân loại theo quá trình phát triển của lý thuyết marketing: Cách phân loại này nhằm mục đích nghiên cứu lịch sử phát triển của marketing. Quá trình phát triển của marketing đƣợc chia làm giai đoạn tƣơng ứng với hai loại marketing: - Marketing cổ điển: Là giai đoạn phát triển của marketing nửa đầu thế kỷ 20.
- Marketing hiện đại: Là giai đoạn phát triển của marketing nửa sau thế kỷ 20. * Phân loại theo yếu tố địa lý: Theo cách phân loại này gồm có: - Marketing khu vực. - Marketing trong nƣớc. - Marketing quốc tế.
* Phân loại theo tính chất tác động của các loại hoạt động marketing đến khách hàng: Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp vận dụng một cách thích hợp các công cụ marketing để chiếm lĩnh thị trƣờng, thu hút và giữ khách hàng. Theo cách phân loại này gồm có: - Marketing trực tiếp. - Marketing không trực tiếp. * Phân loại theo loại hình sản phẩm và dịch vụ: Theo cách phân loại này gồm có: - Marketing hàng hoá tiêu dùng.
Đây là hoạt động marketing của các hãng sản xuất hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng, hàng hóa thƣờng đƣợc phân phối qua nhiều cấp trung gian. - Marketing hàng hoá đầu tƣ còn gọi là marketing công nghiệp hoặc marketing từ kinh doanh (business - to - business marketing). Đây là lĩnh vực marketing chú trọng đến khách hàng là các tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ 10 cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức họ chứ không phải cho mục đích tiêu dùng. - Marketing dịch vụ.
Khi trình độ kinh tế - xã hội càng cao thì hoạt động dịch vụ càng giữ vai trò quan trọng. Có thể phân marketing dịch vụ thành hai nhóm: + Marketing các dịch vụ thƣơng mại nhƣ marketing ngân hàng, bảo hiểm, môi giới cầm đồ, vận tải, dịch vụ sửa chữa. + Marketing các dịch vụ phi thƣơng mại nhƣ trƣờng học, bệnh viện, quân đội, cảnh sát, nhà thờ, marketing cá nhân, marketing chính trị, marketing ý tƣởng xã hội. Các công cụ marketing: Trong khoa học và thực tế, việc phân chia các công cụ marketing ra 4 nhóm (hay còn gọi là 4 lĩnh vực công cụ marketing) đƣợc thực hiện tƣơng đối thống nhất.
Bốn lĩnh vực công cụ marketing và đƣợc gọi là 4 chính sách (hay còn gọi là 4 P), đó là: - Chính sách sản phẩm (Product); - Chính sách giá cả (Price); - Chính sách phân phối (Place); - Chính sách giao tiếp khuếch trƣơng, xúc tiến bán hàng và yểm trợ marketing(còn gọi là chính sách truyền thống); (Promotion).3: Tổng quan về các công cụ marketing Chính sách Nội dung cơ bản - Chủng loại sản phẩm (loại và số lƣợng sản phẩm cung ứng). Chính sách sản phẩm - Hàng hóa (vật chất), các kết quả dịch vụ và các (Product) đòi hỏi của khách hàng. - Các biện pháp liên quan chặt chẽ với sản phẩm (bao gói, dịch vụ bảo hành.) - Định giá Chính sách giá cả - Xác lập chính sách giá (Price) - Các điều kiện (giảm giá, thanh toán) và tài chính tiêu thụ - Tổ chức tiêu thụ riêng của doanh nghiệp - Việc sử dụng các trung gian tiêu thụ Chính sách phân phối (Place) - Đƣờng đi của sản phẩm tới các khách hàng (kênh tiêu thụ) bao gồm kho bãi, vận chuyển sản phẩm và vấn đề lựa chọn địa điểm). - Quảng cáo Chính sách giao tiếp - Xúc tiến bán hàng khuếch trƣơng - Xây dựng mối quan hệ công chúng (Promotion) - Yểm trợ marketing (hội kinh doanh, hội chợ, triển lãm).
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ VẬN TẢI. Các vấn đề chung về dịch vụ và dịch vụ vận tải: * Khái niệm và phân loại dịch vụ: a) Khái niệm dịch vụ: Ngày nay, dịch vụ (service) là một lĩnh vực kinh tế lớn nhất của xã hội hiện đại. Xã hội càng phát triển, trình độ chuyên môn hóa và phân công lao 12 động xã hội càng cao thì lĩnh vực dịch vụ càng mở rộng để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Có thể nói, trình độ phát triển cao của các ngành dịch vụ xã hội là biểu hiện của một xã hội phát triển cao.
Ta có thể định nghĩa về một dịch vụ nhƣ sau: Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao hay sở hữu nào cả. Tuy nhiên, chƣa có một định nghĩa chính xác và thống nhất về dịch vụ. Thực tế, khó có thể phân biệt rõ ràng dịch vụ với hàng hóa bởi vì khi ta mua một hàng hóa thì thông thƣờng ngƣời mua cũng nhận đƣợc một lợi ích của một yếu tố dịch vụ kèm theo. Tƣơng tự, một dịch vụ cũng thƣờng đƣợc kèm theo một hàng hóa hữu hình làm cho dịch vụ tăng thêm giá trị… Sơ đồ 1.