CHƯƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐỀ CHƯNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CỒNG CỤ HẠN MÚC TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 1. Môt • số vấn đề về chính sách tiền tê• 1. K h á i niêm về chính sách tiền tê 1.
Theo lý thuyết Keynes mới được đại diện bởi Mishkin Mishkin (2004) đã đưa ra quan điểm về CSTT theo nghĩa rộng: “CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng là công ăn việc làm cao, tăng trưỏng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái”. Quan điểm của Svensson (2012) cho rằng CSTT cần phải hướng tới ổn định giá cả và duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp để hỗ trợ cho mục tiêu kinh tế chung. Theo pháp luật của các quốc gia a. Tại Mỹ Theo Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), CSTT liên quan đến các hành động của NHTW thông qua việc quản lý cung tiền, lãi suất nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô.
Fed sử dụng ba công cụ: nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc. Với ba công cụ này, Fed can thiệp đến cầu và cung tiền tệ, số dư tiền gửi của các TCTD gũi tại Fed. Bằng cách này, Fed đã làm thay đổi lãi suất Liên bang, là lãi suất tại đó các TCTD cho vay số dư tại Fed cho các TCTD khác qua đêm. Sự thay đổi lãi suất của Fed ảnh hưởng đến một loạt các biến số kinh tế khác như lãi suất 7 ngắn hạn, tỷ giá hối đoái, lãi suất dài hạn, tổng lượng tiền, tín dụng, và cuối cùng là các biến số kinh tế gồm việc làm, sản lượng và giá cả hàng hóa và dịch vụ.
Tại Hàn Quốc Theo Luật Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc là đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế bằng cách theo đuôi mục tiêu ôn định giá thông qua việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cần phải chú trọng đến ổn định tài chính trong việc thực hiện CSTT. Do đó, ổn định giá cả là mục tiêu quan trọng nhất của CSTT của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc; song song với nhiệm vụ đó, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng phải nỗ lực thực hiện các biện pháp để duy trì ổn định tài chính trong quá trình thực thi CSTT. Luật NHNN Khoản 1 Điều 3 Luật NHNN quy định CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.
Như vậy, ổn định giá trị đồng tiền và nâng cao sức mua đồng tiền trong nước luôn được coi là mục tiêu hàng đầu của CSTT. CSTT có thể được thực thi theo một trong hai hướng: - CSTT nới lỏng là hướng tới mục tiêu khuyến khích đầu tư, tăng tổng cầu, tạo công ăn việc làm. CSTT nới lỏng thường được thực thi nhằm chống suy thoái kinh tể. 8 - Thực thi CSTT thắt chặt là nhằm hạn chế đầu tư, giảm tổng cầu.
CSTT thắt chặt được sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. Vận hành của mục tiêu và công cụ CSTT Nguồn; Corrinne Ho (2008) 1. M ụ c tiêu của chính sách tiền tệ 1. Mục tiêu cuối cùng (objectives) Mục tiêu cuối cùng là những biến vĩ mô có tính quan trọng nhất của cả nền kinh tế, thường bao gồm một hoặc một số mục tiêu như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá, ngoài ra còn có thể là ổn định thị trường tài chính.
Nhiều nghiên cứu thực tế đã chỉ ra rằng CSTT chỉ đạt được hiệu quả cao khi NHTW lựa chọn được hệ thống mục tiêu CSTT phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và hệ thống tài chính. Mục tiêu cuối cùng về cơ bản là các mục tiêu trung, dài hạn của một nền kinh tế, do đó NHTW không cần và không thể tác động trực tiếp, ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng (vì tác động trễ của chính sách và các biến số nói trên còn chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác), Vì vậy, NHTW phải đặt mục tiêu trung gian có mối liên hệ với các mục tiêu cuối cùng và tìm cách tác động vào các mục tiêu trung gian. Do tính chất quan trọng của mục tiêu cuối cùng gắn với nhiệm vụ của NHTW nên 9 ở nhiều nước mục tiêu này thường được luật hóa. Xu hướng hiện nay là mục tiêu cuối cùng của các nước phổ biến nhất là ổn định giá cả của NHTW một số nước được quy định thành luật: ở Châu Âu (ECB) đây là mục tiêu duy nhất, ở Mỹ ngoài mục tiêu này Fed có thêm mục tiêu tạo việc làm, ở các nước có độ mở nền kinh tế lớn như Singapore, Hồng Kông mục tiêu cuối cùng là ổn định tỷ giá.
Ở Việt Nam, theo Luật NHNN năm 2010 mục tiêu CSTT có thể hiểu là ổn định giá trị giá cả nhưng điều hành CSTT còn phải đáp ứng nhiều yêu cầu khác. Mục tiêu trung gian (intermediate targets) Mục tiêu trung gian là những biến kinh tế mà NHTW có thể đo lường và kiểm soát được kịp thời, ảnh hưởng trực tiếp và có mối quan hệ mật thiết tới các biến mục tiêu cuối cùng. Nói cách khác, đạt được mục tiêu trung gian sẽ tạo điều kiện đạt được mục tiêu cuối cùng. Do vậy, về nguyên tắc, NHTW điều hành để đạt được mục tiêu trung gian đồng thời theo dõi mục tiêu cuối cùng đê từ đó có điều chỉnh phù họp.
Mục tiêu trung gian về cơ bản có thế là: - Mục tiêu trung gian là tỷ giá: Mục tiêu trung gian này là đặc trưng của cơ chế mục tiêu tỷ giá và đi liền với mục tiêu cuối cùng là ổn định tỷ giá. Các ■ nước có mục tiêu cuối cùng là ổn định tỷ giá bị hạn chế rất lớn trong điều hành CSTT so với các nước điều hành tỷ giá thả nổi (IMF, 2017) và do đó, hầu như không thể chọn mục tiêu nào khác ngoài ổn định tỷ giá ở cấp độ mục tiêu trung gian. Khi chọn mục tiêu này, NHTW về cơ bản sẽ phải neo đồng tiền vào đồng tiền của một quốc gia khác hoặc một rổ tiền tệ của một nhóm quốc gia tùy từng mức độ: neo cứng, thả nổi có kiểm soát. Khi đó, việc điều hành các công cụ CSTT của nước chủ nhà sẽ phụ thuộc và phải đồng điệu với CSTT của nước hoặc nhóm nước mà nước đó neo tỷ giá vào, vì chỉ có như vậy cơ chế neo tỷ giá mới được duy trì.
Nói cách khác, nước neo tỷ giá sẽ mất tự chủ trong điều hành CSTT khi chọn mục tiêu tỷ giá. Cuối thập kỷ 1980, 10 Vương Quốc Anh từng tham gia Khung khổ tỷ giá Châu Âu ERM, neo Bảng Anh vào Mác Đức (Deutsche Mark) nhưng sau đó Anh muốn tự chủ CSTT để điều hành nền kinh tế nên đã phải phá vỡ cam kết và ra khỏi khối ERM vào năm 1992. - Mục tiêu trung gian là cung tiền: Mục tiêu này là đặc trưng của cơ chế mục tiêu tiền tệ, đi liền với mục tiêu cuối cùng là lạm phát, tăng trưởng. NHTW chọn mục tiêu này trong điều kiện lạm phát và tăng trưởng có liên hệ chặt chẽ với cung tiền trong nền kinh tế.
Các biến đo lường mục tiêu này thường được chọn là tổng phương tiện thanh toán hoặc tăng trưởng tín dụng. - Mục tiêu trung gian là kết quả dự báo lạm phát: Đây là đặc trưng của khung khổ LPMT gắn liền mới mục tiêu cuối cùng là lạm phát. Khi thực hiện khung khổ LPMT, về cơ bản NHTW phải có khả năng phân tích, dự báo tốt. Theo đó, NHTW sẽ thường xuyên dự báo lạm phát đế so sánh dự báo với mức lạm phát trong mục tiêu cuối cùng từ đó điều hành các công cụ CSTT nhằm tác động đến nền kinh tế sao cho kết quả dự báo lạm phát hội tụ về mục tiêu cuối cùng.
Mục tiêu hoạt động (operating targets) Mục tiêu hoạt động là những biến số mà NHTW thông qua điều hành CSTT có thể điều tiết trực tiếp và có khả năng kiểm soát ở mức cao nhất. Lựa chọn các mục tiêu hoạt động gắn bó mật thiết, thống nhất với việc lựa chọn các mục tiêu trung gian, v ề nguyên tắc, tương ứng với 3 mục tiêu trung gian trình bày ở trên, thì mục tiêu hoạt động có thê là: - Tỷ giá thị trường: Là mục tiêu gắn liền với mục tiêu trung gian và cuối cùng là tỷ giá. NHTW đặt mục tiêu là tác động nhằm làm một trong số các loại tỷ giá như tỷ giá NHTW công bố, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng; tỷ giá hiệu dụng thực (REER) biến động trong một biên độ nhất định và từ đó sử 11 dụng các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối, tiền tệ như can thiệp ngoại hối, điều hành thanh khoản nội tệ qua OMOs để tác động đến cung cầu ngoại tệ hướng tỷ giá đến mục tiêu để ra. - Cung tiền: Mục tiêu hoạt động này gắn liền với mục tiêu trung gian mục tiêu tiền tệ.
Đối với mục tiêu hoạt động này, NHTW thường chọn biến số là tiền cơ sở (monetary base - MB), tiền dự trữ của các TCTD, tài sản có trong nước ròng (là các cấu phần của MB), lượng thanh khoản vay từ cửa sổ tái chiết khấu.là các biến số gắn mật thiết với các nghiệp vụ điều hành khối lượng tiền tệ hằng ngày của NHTW. - Lãi suất ngắn hạn: Mục tiêu này là đặc trưng của các nước chọn mục tiêu cuối cùng là lạm phát theo khung khổ LPMT, tuy nhiên các nước chọn mục tiêu tỷ giá cũng có thể có mục tiêu hoạt động là lãi suất ngắn hạn (khi đó đây thường là mục tiêu bổ trợ cho mục tiêu hoạt động tỷ giá) vì lãi suất ngắn hạn của nội tệ cũng có mối quan hệ mật thiết đối với tỷ giá trong ngắn hạn do tác động của cơ chế tìm kiếm lợi nhuận từ việc kinh doanh tận dụng chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền (carry trade).