Chương 1 NHỮNG VÂN ĐỂ Cơ BẢN VỂ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TRONG CHIÊN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm chiến lược kinh doanh ngân hàng thương mại Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thuật ngữ “chiến lược ” ngày càng được đề cập và sử dụng nhiều hơn. Hiểu một cách chung nhất, “chiến lược” là phương châm và biện pháp có tính chất toàn cục, được vận dụng trong suốt thời gian nhằm thực hiện mục đích đề ra.
“Chiến lược ” khi được gắn với những cụm từ khác nhau sẽ cho những khái niệm riêng với những nội dung cụ thể. Chẳng hạn như “chiến lược quân sự ”, “chiến lược phát triển kinh tế- xã h ộ i”. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra sự gia tăng về mối quan hệ và hợp tác giữa các quốc gia, đồng thời đưa các doanh nghiệp nói chung, các NHTM nói riêng của mỗi quốc gia đứng trước những cơ hội và thách thức, từ đó dễ dẫn đến nảy sinh hàng loạt các xu hướng như: Xu hướng nới lỏng các quy định điều tiết và kiểm soát các hoạt động của ngân hàng; xu hướng tăng cường sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngân hàng với các định chế tài chính khác. Để đứng vững trong thương trường và phát triển bền vững, các NHTM cần đưa ra các biện pháp mới trong quản trị, điều hành nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh môi trường kinh doanh liên tục thay đổi.
Một trong những điểm đổi mới quan trọng đó chính là việc áp dụng lý thuyết về quản trị chiến lược vào trong quá trình quản trị kinh doanh. Nói cụ thể hon là 4 việc xây dựng chiến lược kinh doanh đúng đắn là nhân tô quyết định sự thành công trong kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững. Vậy “chiến lược kinh doanh ” của NHTM là gì? Chiên lược kinh doanh của NHTM là phương châm, biện pháp được sử dụng trong suốt quá trình kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Xét đến cùng, đó là các mục tiêu an toàn, hiệu quả, tối đa hóa lợi nhuận.
Ngan hang thương mại là một loại hình ngân hàng hoat đông vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. NÓI cụ thê hơn, hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm huy động vốn sử dụng vốn và các dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán, tư vấn, cho thuê két sat. Do đạc thu kinh doanh, các NHTM có vị trí đăc biêt quan trong trong nên kinh tế, là nhân tô quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của chiến lược kinh doanh của NHTM, đó là: - Chiến lược kinh doanh của NHTM là chiến lược tổng hợp, đa dạng bao gồm nhiều hoạt động nghiệp vụ (huy động, sử dụng vốn, dịch vụ) với đặc thù là gắn với sự luân chuyển của tiền tệ; - Chiến lược kinh doanh của NHTM có tinh nhạy cảm cao do hoạt động của ngân hàng có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội chiu tác động của môi trường kinh tê- chính trị- xã hội trong và ngoài nước' - Chiến lược kinh doanh của NHTM có tính hệ thống cao.
Các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn hoạt đọng huy đọng vôn la tiên đê cho hoat động cho vay, ngươc lai, mở rông và nâng cao chất lượng cho vay sẽ mở ra cơ hội tốt cho việc huy động vốn. Bên cạnh đó, việc thu hút khách hàng gửi và vay tiền sẽ tạo thuận lợi cho phát triển các hoạt động dịch vụ. - Chiên lược kinh doanh của NHTM không những có tác động ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn có tác động 5 ảnh hưởng đên hoạt động của các doanh nghiệp khác và nhiều mặt của đời sồng kinh tế- xã hội.
- Quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh cần chú trọng phân tích môi trường, phân tích nội bộ, kết hợp với quan điểm của lãnh đạo để xác định sứ mệnh, mục tiêu, phân tích và lựa chọn các chiến lược, chính sách và kê hoạch thực hiện. Nội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh ngân hàng Như đã phân tích trên đây, kinh doanh trong bối cảnh hội nhập và áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, việc xây dựng chiến lược kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi NHTM. Thông qua xây dựng chiến lược kinh doanh, sẽ phát huy tiềm năng, thế mạnh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong đơn vị. Từ đó, giữ vững nhịp độ tăng trưởng, tìm kiêm các cơ hội kinh doanh, đồng thời giảm thiểu rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận.
Nhìn một cách tổng quát, kết cấu chiến lược kinh doanh của một NHTM bao gồm: (1) Sứ mệnh hay tầm nhìn chiến lược; (2) Mục tiêu chiến lược; (3) Hệ thống chiến lược chức năng; (4) Chính sách; (5) Kế hoạch thực hiện chiến lược. Sứ mệnh là xác định nhiệm vụ quan trọng nhất, có tính chất lâu dài của ngân hàng, là cơ sở để phân biệt với các ngân hàng khác. Nó chỉ ra triết lý và nguyên tắc kinh doanh, là cơ sở để xác định các nội dung khác. Mục tiêu chiên lược thong thường bao gồm các chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả hoạt động, vị thế trong cạnh tranh, thị phần, thị trường mục tiêu.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, luận văn sẽ tập trung phân tích về hệ thống chiến lược chức năng của NHTM. Hệ thống chiến lược chức năng là các chiến lược cho từng lĩnh vực, từng mảng hoạt động của NHTM. Tùy theo từng bối cảnh và điều kiện cụ thể để ngân hàng xác định và xây dựng chiên lược cho từng lĩnh vực. Song cho dù 6 trong bất kì giai đoạn và bối cảnh nào, không thể thiếu các chiến lược như: Chiến lược nguồn vốn; Chiến lược sử dụng vốn; Chiến lược phát triển hoạt động dịch vụ; Chiến lược về tổ chức bộ máy, quản trị điều hành và phát triển nguồn nhân lực; Chiến lược quản trị rủi ro.
Về chiến lược nguồn vốn. Nguồn vốn của NHTM được hình thành từ: vốn chủ sở hữu; nguồn tiền gửi và các khoản huy động; nguồn đi vay; các nguồn khác (uỷ thác, nguồn trong thanh toán. Vì vậy, nội dung về chiến lược nguồn vốn thể hiện trong các chương trình hoạt động tổng thể và dài hạn về doanh số huy động, tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ, mức độ tăng của các khoản vay và sử dụng các nguồn khác nhằm đạt được mục tiêu về tăng trưởng ổn định nguồn vốn, đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý. Điều cần chú ý khi xây dựng chiến lược nguồn vốn là cơ cấu vốn trung dài hạn đối với NHTM các nước đang phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng trung dài hạn, bởi thông thường tại các nước đang phát triển, nhu cầu về đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ là rất lớn.
Về chiến lược sử dụng vốn. Hoạt động chính của NHTM là tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận, hay nói một cách đơn giản là “đi vay đ ể cho vay”. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản Có khác nhau của ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là hai khoản lớn và quan trọng. Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khác nhau, vì những mục tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn và sinh lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn tại NHTM bao gồm các nghiệp vụ chủ yếu như: Ngân quỹ, nghiệp vụ tín dụng và đầu tư, do đó chiến lược sử dụng vốn phải tập trung giải quyết các vấn đề như xây dựng, quản lý danh mục đầu tư, mở rộng hoạt động cho vay, chiếm lĩnh thị trường. Về chiến lược phát triển hoạt động dịch vụ. Hoạt động dịch vụ ngân hàng thương mại gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ tư vấn. Khi nền kinh tế- xã hội ngày càng phát triển, các 7 dịch vụ ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú của khách hàng.
Vì vậy, chiến lược phát triển hoạt động dịch vụ tại NHTM cần tập trung củng cố các dịch vụ hiện có, đồng thời chú trọng phát triển các dịch vụ mới như môi giới kinh doanh bất động sản, làm đại lý, tư vấn, trong đó đáng chú ý nhất là tư vấn về soạn thảo, xây dựng dự án đầu tư, tư vấn về thuế và phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Chiên lược về tổ chức bộ máy, quản trị điều hành và phát triển nguồn nhân lực. Yếu tô con người, mô hình tổ chức luôn là những nhân tô quyết định sự thành công của doanh nghiệp nói chung, NHTM nói riêng. Nội dung của chiến lược này cần tập trung xây dựng mô hình tổ chức đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, xác định rõ chức năng nhiệm vụ các đơn vị, tránh chồng chéo, đồng thời xác định số lượng, cơ cấu lao động, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Về chiến lược quản trị rủi ro. Rủi ro là điều khó tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng. Do đặc thù kinh doanh, tần suất và mức độ rủi ro trong kinh doanh tại NHTM thường cao hơn. Vì vậy, chiên lược quản trị rủi ro của NHTM bao gồm các nội dung như thiết lập bộ máy giám sát, quản lý rủi ro, xác định, đo lường cho từng loại rủi ro.
Bộ máy quản lý rủi ro cần được xây dựng theo nguyên tắc gọn nhẹ và tập trung thống nhất, từ trụ sở chính đến các chi nhánh. Hoạt động kinh doanh tại NHTM luôn chứa dựng nhiều rủi ro. Nói khác đi là rủi ro luôn tiềm ẩn tại các khâu trong qui trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Trong đó, rủi ro thường xảy ra nhất và gây hậu quả lớn nhất là rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến sự phá sản của ngân hàng, gây trì trệ, thậm chí khủng hoảng cho nền kinh tế.