Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. - Chương 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng thƣơng mại gắn liền với sự phát triển của quan hệ hàng hóa-tiền tệ. Trong quan hệ đó, ngân hàng phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ thấp đến cao; hình thức và hoạt động của ngân hàng ngày càng phong phú. Tuy vậy, ngân hàng là thế nào, thì trong diễn đàn khoa học không có khái niệm giống nhau.
Nhà kinh tế học, ngƣời Anh Peter S. Rose thì cho rằng, “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào” ( Peter Rose, 2008). Khái niệm của Peter Rose chỉ tiếp cận hoạt động của ngân hàng nhƣ là một loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính trong nền kinh tế; không đề cập đến mục tiêu cung hoạt động; cũng nhƣ không chi tiết hoạt động của từng loại hình ngân hàng.Trên phƣơng diện luật pháp, mỗi quốc gia cũng đƣa ra khái niệm không giống nhau. Có quốc gia tiếp cận khái niệm ngân hàng một cách chung nhất trên phƣơng diện hoạt động; nhƣng cũng có nƣớc thì tiếp cận chi tiết hơn.
Ví dụ, theo luật Mỹ, thì bất cứ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thƣơng mại sẽ đƣợc xem là ngân hàng. Điều 1 Luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho 5 chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Luật pháp Việt Nam khái niệm về ngân hàng chi tiết hơn, cụ thể hơn so với nhiều nƣớc trên thế giới. Theo đó: - Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật; trong đó TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhƣ nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thƣơng mại đƣợc tổ chức dƣới các hình thức khác nhau: Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc ( bao gồm ngân hàng thƣơng mại do Nhà nƣớc sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thƣơng mại cổ phần do Nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ); Ngân hàng thƣơng mại tổ chức dƣới hình thức công ty cổ phần; Ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nƣớc ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nƣớc ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ); Ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam; Ngân hàng thƣơng mại liên doanh thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nƣớc ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nƣớc ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng thƣơng mại liên doanh đƣợc thành lập dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Một số ý kiến của các nhà khoa học về hoạt động của ngân hàng thương mại Hiện nay cũng còn nhiều ý kiến không giống nhau về hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Có ý kiến cho rằng, sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng là trao đổi ngoại tệ, chiết khấu thƣơng phiếu và cho vay thƣơng mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch. Cũng có ý kiến khái quát, rằng ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay. Ngày nay, với trình độ khoa học và công nghệ phát triển, nhu cầu tiêu dùng và sản xuất hàng hóa đã có nhiều thay đổi….Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội với những điều kiện đó, sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đã phát triển nhanh chóng và ngày càng đa dạng, đồng thời có những sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng không còn phù hợp với điều kiện mới ở nhiều Quốc gia.Ví dụ, nhƣ tài trợ hoạt động của Chính phủ.
Nhìn chung, theo bản chất của trung gian tài chính, hoạt động của ngân hàng thƣơng mại là huy động vốn trong nền kinh tế để cho vay. Ngoài ra, ngân hàng thƣơng mại còn thực hiện các nghiệp vụ khác nhƣ giao dịch ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thƣơng mại quốc tế, chiết khấu thƣơng phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; kinh doanh vàng theo quy định của pháp luật; bao thanh toán; dịch vụ bảo quản tài sản và cho thuê tủ, két an toàn (bao gồm cả dịch vụ giữ hộ, bảo quản vàng); đại lý bảo hiểm; ủy thác cho vay và nhận ủy thác cho vay; cấp tín dụng dƣới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác… Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại thuộc đối tƣợng quản lý của Nhà nƣớc, vì vậy, hình thức tổ chức và nội dung hoạt động chi tiết của ngân hàng phụ thuộc vào Luật điều chỉnh của từng Quốc gia cụ thể. 7 Theo luật các TCTD VN năm 2010, về nguyên tắc chung, NHTM không đƣợc tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác ghi trong Giấy phép, bất cứ hoạt động nào ngoài giấy phép đều không đƣợc thực hiện. Theo đó, ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đƣợc thực hiện các hoạt động: i) Hoạt động ngân hàng;ii) các hoạt động khác trong lĩnh vực tiền tệ (tạm gọi là các hoạt động khác).
Hoạt động ngân hàng là hoạt động cốt lõi của ngân hàng thƣơng mại; bất cứ ngân hàng thƣơng mại nào đƣợc cấp phép thành lập và hoạt động đều đƣợc phép thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng theo quan điểm của Việt Nam Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thƣơng mại - Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài. - Cho vay - Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác - Bảo lãnh ngân hàng - Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng - Bao thanh toán - Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
- Cung ứng các phƣơng tiện thanh toán. - Cung ứng các dịch vụ thanh toán. Các hoạt động khác của ngân hàng thƣơng mại Ngoài phạm vi hoạt động ngân hàng, ngân hàng thƣơng mại có thể thực hiện các hoạt động khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận, đảm bảo thanh khoản, và phát tiển ngân hàng. 8 Các hoạt động khác bao gồm: - Vay vốn của NHNN, vay của các tổ chức tài chính khác - Góp vốn mua cổ phần - Tham gia thị trƣờng tiền tệ - Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh - Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán - Tham gia thị trƣờng tiền tệ - Ủy thác và đại lý - Dịch vụ quản lý tiền mặt, tƣ vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an 1.
Tổ chức quản lý, mạng lƣới của Ngân hàng thƣơng mại. Tổ chức quản lý và mạng lƣới của ngân hàng phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp của ngân hàng. Ngân hàng thƣơng mại gồm trự sở chính và mạng lƣới chi nhánh. Cơ cấu tổ chức mạng lƣới.
Ngân hàng phải có trụ sở chính, gồm cơ cấu tổ chức các Phòng Ban do ngân hàng tự quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngân hàng. Mạng lƣới hoạt động của ngân hàng thƣơng mại bao gồm chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nƣớc; chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn ở nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thƣơng mại, hạch toán phụ thuộc, có con dấu, có nhiệm vụ thực hiện một hoặc một số chức năng của ngân hàng thƣơng mại theo quy định của pháp luật. Phòng giao dịch là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thƣơng mại, đƣợc quản lý bởi một chi nhánh ở trong nƣớc của ngân hàng thƣơng mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, có địa điểm đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nơi đặt trụ sở chi nhánh quản lý.
Phòng giao dịch không đƣợc thực hiện: cấp tín dụng 9 cho một khách hàng vƣợt quá hai (02) tỷ đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ quy đổi tƣơng đƣơng, trừ trƣờng hợp khoản cấp tín dụng đƣợc đảm bảo toàn bộ bằng tiền, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính ngân hàng thƣơng mại phát hành, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc nhà nƣớc; cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế…. Cơ cấu tổ chức quản lý Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thƣơng mại cổ phần, ngân hàng thƣơng mại cổ phần do Nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc do Nhà nƣớc sở hữu 100% vốn điều lệ, ngân hàng thƣơng mại liên doanh, ngân hàng thƣơng mại 100% vốn nƣớc ngoài bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc.