Chương I: Lý luận chung về huy động vốn và tăng trưởng vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng tăng trưởng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa Chương III: Giải pháp tăng trưởng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín- Chi nhánh Đống Đa Hà nội 3 CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ TĂNG TRƢỞNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng Thƣơng mại 1.1 Khái niệm về vốn 1.1 Khái niệm chung về vốn Theo chiều dài phát triển lịch sử cũng như sự phát triển của các học thuyết kinh tế, các quan điểm về vốn ngày càng được hoàn thiện hơn. Các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau thì có những tư duy về vốn khác nhau cụ thể như sau: Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận dưới góc độ vật chất thì cho rằng: vốn là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế thời kì sơ khai- giai đoạn tiền phát triển. Theo quan điểm của Mác thì: vốn (Tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn.
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng) mà giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm.
Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng. Theo David Begg trong cuốn (Kinh tế học) thì: Vốn là một loại hàng hóa nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác.
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn là toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ không chỉ bao gồm tài sản tài chính mà còn 1 cả các kiến thức kinh tế kĩ thuật của doanh nghiệp đã tích lũy được, trình độ quả lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành doanh nghiệp đã tích lũy được, trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp. Các quan điểm về vốn ở trên tiếp cận dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau nên nội dung chúng phản ánh có khía cạnh khác nhau nhưng thể hiện được các vấn đề sau: - Nguồn gốc của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư vào các chu kì sản xuất kinh doanh.
- Thể hiện được mục đích của sử dụng vốn là tìm kiếm các lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn doanh nghiệp nói riêng. Vì vậy, có thể khái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài chính được các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận.2 Vốn của ngân hàng thương mại Các nhà kinh tế học đã đưa ra khái niệm vốn của Ngân hàng Thương mại (NHTM) như sau: “Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân Ngân hàng Thương mại tạo lập hoặc huy động dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác". Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của Ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân Ngân hàng và những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các thành phần trong nền kinh tế. Các cá nhận, tổ chức gửi tiền vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau: Hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của Ngân hàng.
Đây chính là cách họ chuyển quyền sử dụng vốn cho Ngân hàng và số tiền mà Ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có được nguồn vốn, các Ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê…Nói chung vốn của Ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng ngân hàng thương mại. 2 Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại nguồn vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Khái niệm về huy động vốn Ngân hàng, về căn bản, cũng là một doanh nghiệp, cần có nguồn vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
Bởi vậy, hoạt động tạo lập vốn là hoạt động căn bản và quan trọng đối với ngân hàng. Bên cạnh nguồn vốn tự có như vốn điều lệ, các quỹ và lợi nhuận giữ lại, ngân hàng còn có nguồn vốn huy động. Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn sơ khai của hoạt động ngân hàng, nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn, lúc này người trả phí là người gửi tiền chứ không phải các ngân hàng, các khoản tiền chỉ đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại, tiền lúc này chưa sinh ra lợi nhuận.
Khi nhu cầu tín dụng tăng lên, nghiệp vụ ngân hàng phát triển, ngân hàng trở thành người trả phí (lãi suất) cho các khoản tiền kí gửi và các nguồn tiền đó trở thành nguồn vốn khả dụng lớn nhất của các ngân hàng thương mại hiện nay. Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát triển của các ngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm huy động vốn đã có những thay đổi đổi đáng kể về cả quy mô và các hình thức thể hiện. Bản thân thuật ngữ “huy động vốn” đã nêu lên tương đối công việc trong công tác này. Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và thiếu vốn, có thể nói ngân hàng thương mại đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, các nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã hội.
Huy động vốn là việc NHTM động viên các nguồn vốn trong xã hội để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, ngân hàng thực hiện điều này thông qua việc thu hút nguồn tiền tạm thời nhà rỗi trong xã hội bằng các hình thức tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá hoặc đi vay vốn NHTW hoặc TCTD khác. Tạo nên một 3 nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và chia một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất. Hoạt động tạo lập vốn là hoạt động cơ sở cũng như tiền đề cho hoạt động cho vay. Bất kỳ một ngân hàng nào muốn cho vay được đều phải đi huy động vốn.
Huy động vốn vừa sinh lời cho các cá nhân, tổ chức gửi tiền cũng vừa tạo nguồn vốn cho chính ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ.3 Chức năng và vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Nguồn vốn của NHTM là các giá trị tiền tệ của chính NHTM, do NHTM huy động hay đi vay, được dùng để tổ chức các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như cho vay, đầu tư tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác. Nguồn vốn là tiền đề để doanh nghiệp tổ chức, thiết kế mọi hoạt động kinh doanh sinh lời. Nghiệp vụ nguồn vốn đóng vai trò cơ sở, còn nghiệp vụ sử dụng vốn đóng vai trò phái sinh. Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn của ngân hàng không ngừng tăng lên, vượt xa số vốn tự có của ngân hàng nhờ hoạt động huy động vốn được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau: từ dân cư, từ các doanh nghiệp hay trên thị trường vốn.
Quy mô vốn của một ngân hàng càng lớn thì càng khẳng định được sức mạnh và uy tín của nó trên thị trường tài chính, tạo ra điều kiện tốt nhất cho sự hoạt động và phát triển. Chính vì thế các ngân hàng không ngừng cạnh tranh nhau để thu hút được lượng vốn lớn trên thị trường bằng nhiều chiến lược khác nhau. Mỗi một ngân hàng có những lợi thế và chiến lược riêng trong việc huy động vốn dẫn tới cơ cấu các thành phần trong nguồn vốn của chúng khác nhau. Do đó, vốn huy động có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế nói chung và của của các ngân hàng nói riêng.1 Đối với nền kinh tế Huy động vốn có vai trò khuyến khích tiết kiệm bằng các biện pháp thu hút và huy động vốn thông qua các dạng tài khoản khác nhau trên một mạng lưới chi nhánh rộng khắp.
Huy động vốn còn giúp cho nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng, tránh tình trạng người thừa vốn thì không sử dụng, người cần vốn thì lại không có như vậy nguồn vốn của nền kinh tế sẽ được cân đối và nâng cao hiệu quả sử dụng. Các cơ hội đầu tư luôn có điều 4 kiện để thực hiện. Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp nó phát triển liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả hơn.