MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thuật ngữ chất thải nguy hại (CTNH) đƣợc pháp quy hóa chính thức ở nƣớc ta từ khi Nghị định 155/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 1999 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại chính thức đƣợc ban hành. Thuật ngữ này dần trở nên quen thuộc sau khi một loạt các văn bản hƣớng dẫn và triển khai đƣợc ban hành trong các năm tiếp theo, với các mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển và trƣởng thành là năm 2006 với Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 về hƣớng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH và Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành Danh mục CTNH kèm theo. Tiếp đó là thời điểm năm 2011 với sự ra đời của Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 quy định về quản lý CTNH trong đó đã tích hợp hai văn bản nêu trên và đƣợc thiết kế theo hƣớng tinh giảm thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Thủ tƣớng chính phủ.
Cho đến khi Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014 bắt đầu có hiệu lực, một lần nữa Thông tƣ 12/2011/TT-BTNTM ngày 14 tháng 4 năm 2011 đƣợc thay thế bằng Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015. Đây là văn bản chủ chốt hiện đang đƣợc sử dụng để áp dụng rộng rãi trên cả nƣớc về quản lý CTNH. Cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu và Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT cùng với một hệ thống các văn bản liên quan là các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia…Chính từ sự phát triển của các văn bản hƣớng dẫn và sự nỗ lực triển khai trong toàn ngành tài nguyên nên công tác quản lý CTNH đã đạt đƣợc những kết quả ban đầu rất đáng ghi nhận trên toàn quốc. Tuy nhiên, trong thực tế quản lý, một vấn đề dễ nhận thấy là sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền cũng nhƣ các địa phƣơng trong công tác quản lý CTNH.
Điều này phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phƣơng. CTNH tập trung phát sinh chủ yếu tại các Vùng kinh tế trọng điểm trong cả nƣớc và tƣơng ứng với nó là tại các tỉnh thành thuộc Vùng kinh tế trọng điểm. Cùng với sự phát triển mạnh việc công nghiệp hóa tại các tỉnh thành nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm thì lƣợng phát 1 sinh CTNH tại địa phƣơng đó càng tăng cao và diễn biến phức tạp, đòi hỏi cơ sở vật chất để quản lý CTNH cũng nhƣ Cơ quan quản lý nhà nƣớc về CTNH tại địa phƣơng phải đƣợc xây dựng và vận hành khoa học, đáp ứng với nhu cầu phát triển nhanh và mạnh của lƣợng CTNH phát sinh. Trong thực tiễn, dù cùng đƣợc xây dựng và vận hành theo các quy định về quản lý CTNH tại Thông tƣ 36/2015/TT-BTNMT, tuy nhiên, việc quản lý và áp dụng ở các địa phƣơng cũng có những đặc điểm rất riêng tùy theo mức độ phát triển và nhu cầu quản lý của từng địa phƣơng.
Có thể đơn cử ra các địa phƣơng phát triển mạnh về công nghiệp nhƣ Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Long An, Đồng Nai, Bình Dƣơng (thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam…) hay Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Hà Nội, Hải Phòng….thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Tại các tỉnh này vai trò và mức độ yêu cầu về quản lý CTNH của các cơ quan quản lý đã và đang đƣợc thể hiện rõ rệt. Có thể nói Cơ quan quản lý về môi trƣờng ở các địa phƣơng này lớn mạnh hơn hẳn về quy mô tổ chức cũng nhƣ kinh nghiệm quản lý và tiềm lực phát triển so với các địa phƣơng kém phát triển về kinh tế và công nghiệp khác của cả nƣớc. Sự phát triển, kinh nghiệm xây dựng và quản lý CTNH tại các địa phƣơng này sẽ là những bài học quý báu và là mô hình hay để học tập và rút kinh nghiệm trong việc quản lý CTNH của các địa phƣơng khác nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các địa phƣơng cũng nhƣ cả nƣớc trong tƣơng lai gần.
Thái Nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực Đông Bắc hay cả Vùng trung du và miền núi phía Bắc. Thái Nguyên hiện đang đƣợc nghiên cứu để trở thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội. Hiện nay, chất thải nguy hại phát sinh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tập trung chủ yếu tại các Khu công nghiệp lớn, các nhà máy xí nghiệp sản xuất công nghiệp nhƣ: KCN Yên Bình, KCN Điền Thụy, KCN Sông Công, KCN Lƣu Xá, các nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, khai thác và chế biến khoáng sản, luyện kim, vật liệu xây dựng… Hiện trên toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 2500 cơ sở sản xuất công nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, đã quy hoạch 06 KCN (4/6 KCN đã đi vào hoạt động), 32 cụm công nghiệp.
Theo đó, nguồn chất thải rắn nói chung và CTNH nói riêng trên địa 2 bàn tỉnh Thái Nguyên phát sinh ngày càng nhiều và đa dạng về chủng loại, đang là áp lực rất lớn trong công tác quản lý môi trƣờng của tỉnh, đặc biệt là từ khi tập đoàn Samsung đầu tƣ vào địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Theo báo cáo quản lý CTNH của Sở Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2016, riêng Công ty Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên đã phát sinh lƣợng CTNH chiếm khoảng 2/3 lƣợng CTNH phát sinh trong toàn tỉnh. Mặt khác, vấn đề lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại trở nên vô cùng bức thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội hiện nay. Thông qua việc lập kế hoạch giúp cho hoạt động quản lý của nhà nƣớc đối với vấn đề này đạt hiệu quả cao.
Qua đó ngằn ngừa, hạn chế việc gia tăng số lƣợng chất thải nguy hại vào môi trƣờng, giảm thiểu những ảnh hƣởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng sống. Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, cho thấy đề tài “Nghiên cứu các giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý CTNH tại các KCN tỉnh Thái Nguyên” là nghiên cứu cần thiết, sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về công tác quản lý CTNH tại tỉnh Thái Nguyên để từ đó đƣa ra các đánh giá nhằm tăng cƣờng đƣợc năng lực quản lý công nghiệp nguy hại trên địa bàn tỉnh hƣớng tới mô hình quản lý CTNH hiệu quả có thể nhân rộng trong cả nƣớc. Mục tiêu của đề tài: - Đánh giá hiện trạng phát sinh và thực trạng quản lý CTNH (thu gom, vận chuyển, xử lý của các chủ nguồn thải, chủ hành nghề quản lý CTNH cũng nhƣ công tác quản lý nhà nƣớc) CTNH từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý CTNH từ hoạt động sản xuất công nghiệp cho khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đối tượng nghiên cứu: - CTNH phát sinh từ các hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Công tác quản lý CTNH tại các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu: 3 - Các cơ sản xuất công nghiệp có phát sinh CTNH tại khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên - Cơ sở dữ liệu, số liệu của nghiên cứu đƣợc thu thập trong khoảng từ năm 2015 tới nay. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Cách tiếp cận: Trên cơ sở điều tra, khảo sát tình hình thực tế quản lý và xử lý CTNH tại các cơ sở chủ nguồn thải, cơ sở chủ vận chuyển, chủ xử lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đƣa ra các đánh giá về thực trạng công tác quản lý CTNH tại các KCN; đánh giá những tồn tại, khó khăn bất cập trong công tác quản lý CTNH tại khu vực nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTNH.
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu, cụ thể nhƣ sau: Phương pháp điều tra, khảo sát Phƣơng pháp này nhằm nắm bắt tình hình chung liên quan đến đề tài nghiên cứu thu thập các thông tin số liệu liên quan đến chất thải nguy hại của tỉnh Thái Nguyên nhƣ: điều tra, khảo sát thực địa tại khu công nghiệp, cơ sở của một số chủ vận chuyển, chủ xử lý CTNH tại tỉnh Thái Nguyên. Phƣơng pháp này sẽ giúp xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề xuất giải pháp hiệu quả. Phương pháp kế thừa Phƣơng pháp này đƣợc thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tƣ liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu. Trong luận văn sử dụng phƣơng pháp này để lựa chọn các thông tin, dữ liệu từ các số liệu, báo cáo, của Chi cục Bảo vệ môi trƣờng tỉnh Thái Nguyên; kế thừa các thông tin về công nghệ xử lý tại các biên bản kiểm tra điều kiện hành nghề đối với một số đơn vị hành nghề khác mà học viên không trực tiếp tới khảo sát tại tỉnh Thái Nguyên, kế thừa một số kết quả phân tích về công nghệ xử lý CTNH do Tổng cục Môi trƣờng đã nghiên cứu trƣớc đây.
4 Phương pháp phân tích tổng hợp Thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có trong nƣớc và quốc tế về CTNH để xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá tình hình thực tế. Bên cạnh đó nghiên cứu các hồ sơ đăng ký hành nghề của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trƣờng cấp phép và các tài liệu có liên quan đến công nghệ xử lý chất thải của các chủ xử lý CTNH. Xử lý số liệu một cách định lƣợng. Ở giai đoạn đầu, tiến hành tổng hợp, thu thập các tài liệu có liên quan phục vụ các số liệu trong luận văn.
Tiến hành thống kê số liệu dựa trên các hồ sơ đăng ký hành nghề quản lý CTNH và báo cáo quản lý CTNH định kỳ của các đơn vị hành nghề quản lý CTNH đã đƣợc cấp phép, các báo cáo quản lý CTNH của tỉnh Thái Nguyên, các nguồn tài liệu, tƣ liệu và số liệu thông tin trong nƣớc khác. Cấu trúc của Luận văn: - Chƣơng 1. Tổng quan về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại - Chƣơng 2.