Mở đầu * Luận văn gồm 03 chƣơng đƣợc trình bày nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng – Chi nhánh Bình Định. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng – Chi nhánh Bình Định. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã tham khảo một số luận văn thạc sĩ với các đề tài có liên quan đã đƣợc bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng, trƣờng đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Việt Nam, hệ thống các NHTM đều vận dụng những vấn đề lý luận về huy động vốn trong hoạt động huy động vốn của mình. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, các NHTM đều có chiến lƣợc không ngừng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, muốn vậy trƣớc hết phải mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh tiền tệ, từ đó mới có thể mở rộng các mặt hoạt động kinh doanh khác, gia tăng nguồn vốn huy động là mục tiêu mà bất kỳ ngân hàng nào cũng phải hƣớng đến. Các sản phẩm huy động càng đa dạng, cơ cấu vốn huy động hợp lý, mạng lƣới hoạt động mở rộng, các chính sách huy động cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ tốt sẽ thu hút khách hàng càng nhiều thì khả năng tăng nguồn tiền gửi càng nhiều hơn, ổn định hơn. Luan van 5 Điển hình, trong một số luận văn về đề tài tăng cƣờng huy động vốn tại các NHTM, nội dung luận văn cũng đã đánh giá đƣợc thực trạng huy động vốn của các NHTM cụ thể với những thành tựu đạt đƣợc và hạn chế của công tác huy động vốn, từ đó tìm ra các giải pháp hoàn thiện cũng nhƣ nâng cao khả năng huy động vốn của các NHTM.
Mỗi đề tài có những điểm riêng khác biệt tùy thuộc vào quy mô, đặc thù sản phẩm, dịch vụ của mỗi ngân hàng. - Đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” của học viên Thái Trịnh Nam, Đại học Đà Nẵng, năm 2011. Tác giả trình bày cơ sở lý luận chung về huy động vốn mạch lạc, rõ ràng. Tác giả áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu dựa trên dữ liệu sẵn có, thống kê và thu thập thông tin thực tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng từ đó hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn tại các NHTM.
Sử dụng phƣơng pháp thống kê, tổng hợp để đƣa ra các phân tích các cơ cấu nguồn vốn theo từng đặc điểm khác nhau. So sánh lý luận với thực tế để đƣa ra các giải pháp thích hợp và đồng bộ nhằm tăng cƣờng công tác huy động vốn. Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng là Ngân hàng có quy mô lớn, do đó các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khá đa dạng và đầy đủ, việc thống kê và thu thập số liệu sẽ phong phú, giúp cho tác giả đề tài phân tích thực trạng sâu và đề ra nhiều giải pháp. - Đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long” của học viên Bùi Hồng Minh, Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006.
Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận chung về hoạt động huy động vốn của các NHTM theo cách tiếp cận, sắp xếp khác với đề tài trên, sử dụng phƣơng pháp Luan van 6 phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa các lý luận, cụ thể tác giả chú trọng vào cơ sở lý luận của việc phân tích và quản trị nguồn vốn huy động tại các NHTM một cách rõ ràng. Trong phần thực trạng, cũng nhƣ đề tài trên, tác giả cũng phân tích cơ cấu nguồn vốn huy động theo từng loại khác nhau. Ngoài ra, tác giả đi sâu vào phân tích thực trạng của các hình thức huy động tiền gửi của ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long. Từ thực trạng, tác giả đƣa ra những kết quả đạt đƣợc, những tồn tại và nguyên nhân của hạn chế.
Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long. Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là NHTMCP Nhà nƣớc, với quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, do đó sản phẩm huy động vốn chƣa đa dạng. Khi tham khảo các tài liệu, tôi nhận thấy các luận văn trên cơ bản đã giải quyết đƣợc một số vấn đề sau: + Mặc dù trình bày cơ sở lý luận theo các cách khác nhau nhƣng cả hai đề tài đều hệ thống hóa những lý luận cơ bản liên quan đến huy động vốn của NHTM. + Phân tích thực trạng về quy mô và cơ cấu vốn huy động tại các NHTM, rút ra các nguyên nhân và hạn chế trong công tác huy động vốn.
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của huy động vốn. Đứng trƣớc xu thế hội nhập kinh tế của khu vực và toàn cầu – nhất là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO thì sự cạnh tranh ngay càng khốc liệt không chỉ giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nƣớc mà còn với cả các ngân hàng, tổ chức tài chính nƣớc ngoài. Hơn nữa, khi thị trƣờng chứng khoán dần ổn định thì yêu Luan van 7 cầu khai thác tối đa nguồn vốn tiềm tàng trong các tổ chức kinh tế và dân cƣ để đáp ứng nhu cầu vốn cho toàn xã hội là một thách thức lớn. Do đó, các NHTM cần phải có chiến lƣợc tăng cƣờng huy động vốn, trong khi đó phải tối đa hóa sử dụng vốn hợp lý và hiệu quả.
Các luận văn trên đều đƣa ngƣời đọc có cái nhìn tổng quan về công tác huy động vốn của các NHTM, phân tích thực trạng và đƣa ra giải pháp huy động vốn hiệu quả đã phần nào giúp tôi có định hƣớng cho luận văn của mình. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÁC NHTM 1. Khái niệm nguồn vốn huy động của NHTM “Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Các NHTM nhận vốn từ những ngƣời gửi tiền, các chủ thể cho vay để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình nên nguồn vốn này đƣợc xem nhƣ một khoản nợ của ngân hàng”. Các hình thức huy động vốn a. Vốn huy động dưới hình thức tiền gửi Tiền gửi là bộ phận tài sản nợ chủ yếu của bất kỳ NHTM nào. Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vƣợng và phát triển của Ngân hàng.
Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng nhƣ của các nhà quản lý Ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm từ doanh nghiệp và cá nhân là một thƣớc đo quan trọng về sự chấp nhận của ngƣời dân với ngân hàng. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc xâu sa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng [7]. Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, nó đƣợc chia thành các loại sau: * Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngƣời gửi tiền đƣợc quyền rút tiền ra bất cứ lúc nào trong thời gian làm việc của ngân hàng. Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm: - Tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
- Tiền gửi của cá nhân. Luan van 9 - Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể, xã hội. Chủ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, gửi tiền vào ngân hàng không nhằm mục đích thu lãi, mà để phục vụ cho nhu cầu thanh toán, đặc biệt là các tổ chức kinh tế thƣờng sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán để phục vụ nhu cầu chi trả thƣờng xuyên, nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp. Các cá nhân và hộ gia đình thƣờng chiếm tỷ trọng ít hơn trong tổng tiền gửi không kỳ hạn.
Ngân hàng nào cung cấp dịch vụ ngân quỹ và thanh toán tốt nhất sẽ có điều kiện thu hút nguồn vốn này nhiều hơn. Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn huy động có chi phí thấp nhất và tăng thu phí dịch vụ cho các NHTM, giúp ngân hàng duy trì các nhu cầu giao dịch. Mặt khác, việc thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng còn tiết kiệm chi phí lƣu thông cho xã hội, thực hiện văn minh và giảm thiểu rủi ro trong thanh toán. Tuy nhiên, nguồn vốn này là nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi có thể huy động.
* Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm dùng để thu hút vốn của những ngƣời muốn dành riêng một khoản tiền cho các mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính đƣợc dự tính trong tƣơng lai. Ngƣời gửi tiền tiết kiệm là các cá nhân và hộ gia đình. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Trong khi chi phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiền gửi tiết kiệm nói chung thấp.
Đây là loại tiền gửi mà về phƣơng diện lý thuyết, ngƣời gửi chỉ có thể rút tiền khi đến hạn thỏa thuận trong hợp đồng và đƣợc hƣởng lãi suất cao, tuy nhiên do cạnh tranh trong huy động vốn nên các ngân hàng cho phép ngƣời gửi tiền có thể rút trƣớc hạn, trong trƣờng hợp này ngƣời gửi tiền chỉ Luan van 10 đƣợc hƣởng lãi suất không kỳ hạn. Đối với loại tiền gửi này ngƣời gửi tiền đƣợc ngân hàng cấp một sổ tiền gửi có ghi rõ kỳ hạn gửi và lãi suất. Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc đầu tƣ chúng vào các kế hoạch sinh lời, ít gây sức ép rút tiền đối với ngân hàng. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các Ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cƣ thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lƣới hoạt động, đƣa ra các hình thức tiết kiệm đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.