phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Chƣơng 3: Giải pháp thực thi chính sách hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 11 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NƢỚC SINH HOẠT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO 1. Các chính sách hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở nƣớc ta hiện nay 1. Khái niệm hỗ trợ, dân tộc thiểu số và hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số Trong xã hội hiện nay thì việc thực hiện các chính sách nhà nƣớc về nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại các tỉnh nói chung giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc.
Do đó, việc làm tốt công tác này đã góp phần giảm tỷ lệ nghèo của nhân dân, tăng cƣờng quá trình phát triển và xây dựng đất nƣớc thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế, văn hóa, xã hội đáp ứng với các điều kiện trong công cuộc xây dựng đất nƣớc thời kỳ hiện nay. Vì vậy, trong xã hội càng phát triển thì công tác hỗ trợ cho ngƣời dân nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng cao là vô cùng quan trọng. Điều này thể hiện thông qua nhiều biện pháp, trong đó có việc quản lý nhà nƣớc về hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số bằng các biện pháp nhƣ ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát hoạt động là vô cùng quan trọng. - m: n: Là nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng nhƣ tắm, giặt, rửa, vệ sinh cá nhân.
thƣờng không sử dụng để ăn, uống trực tiếp. Nƣớc sinh hoạt đảm bảo (nƣớc sạch) là nƣớc có các tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT. Theo quy định tại khoản 13 Luật tài nguyên nƣớc 2012 quy định: 12 - Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính Phủ về công tác dân tộc thì dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa trên thì có thể đƣa ra các định nghĩa nhƣ sau về có nghĩa là nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng đối với dân tộc thiểu số nghèo ở nƣớc ta hiện nay.
Với định nghĩa nhƣ trên về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân tộc thiểu số nghèo đƣợc thực hiện trong thực tế để từ đó các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành các quy định để quản lý công tác này một cách có hiệu quả ở nƣớc ta hiện nay. Thông qua các quy định pháp lý về vấn đề này để hình thành các quan hệ pháp luật về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân nói chung và DTTS nghèo nói riêng đã đƣợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách có hiệu quả. Trong quan hệ pháp luật về lĩnh vực này hiện nay quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm việc thực thi về quy trình hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho DTTS một cách an toàn và đúng quy định pháp luật do các cơ quan NN có thẩm quyền tiến hành. Với quy định nhƣ trên thì Luật tài nguyên nƣớc và các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã điều chỉnh một cách tƣơng đối hợp lý các vấn đề liên quan đến việc áp dụng những quy định về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân tộc thiểu số ở nƣớc ta góp phần hoàn thiện CSPL về nƣớc sinh hoạt cho các DTTS nghèo từ lý luận đến thực tiễn.
Tạo ra nền tảng pháp lý cơ sở cho các hoạt động có liên quan đến chính sách này ở nƣớc ta trong tiến trình hội nhập kinh tế - quốc tế. Theo quy định của CSPL về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bao dân tộc thiểu số thì quá trình thực hiện cần thiết đáp ứng một số yêu cầu và thực hiện thông qua một quy trình đƣợc kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ. Các 13 cơ sở này phải đáp ứng đƣợc các yêu cầu về cấp nƣớc sinh hoạt theo quy định đã đƣợc đề ra. Với định nghĩa đƣợc xây dựng trên những hoạt động về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân đƣợc thực hiện trong thực tế để từ đó các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành các quy định để quản lý công tác này một cách có hiệu quả ở nƣớc ta hiện nay.
Thông qua các quy định pháp lý về vấn đề này để hình thành các quan hệ pháp luật về hỗ trợ nƣớc sinh hoạt cho đồng bào DTTS đƣợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách có hiệu quả. Trong chính sách pháp luật này đã đƣợc quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm việc thực thi về quy trình một cách an toàn và đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện. Bên cạnh làm rõ khái niệm về . Nhƣ vậy, với sự phát triển ngày càng hiện đại của các quan hệ xã hội nói chung cũng nhƣ nhận thức của con ngƣời thì việc đƣa ra các khái niệm pháp lý nhƣ , thực tế những năm vừa qua việc xuất hiện các công tác có liên quan đến hoạt động này rất đƣợc quan tâm và đã đƣợc các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chú trọng trong hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Hay nói cách khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay đã và đang có sự thay đổi nên việc quản lý nhà nƣớc bằng các công cụ pháp luật luôn đƣợc quan tâm, chú trọng. Bởi lẽ, hoạt động cần đƣợc quan tâm một cách đúng mức bởi lẽ hoạt động này có sự ảnh hƣởng đến quyền lợi của toàn xã hội vì hoạt động này có ảnh hƣởng trực tiếp đến việc đảm bảo cho sự phát triển về vật chất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung đƣợc điều chỉnh bằng một hệ thống quy phạm pháp luật ở nƣớc ta trong giai đoạn vừa qua. - Hiện nay, khái niệm chính sách luôn đƣợc nhắc đến trong hoạt động về quản lý nhà nƣớc ở nƣớc ta nói chung. Những cách hiểu về chính sách có thể 14 đƣợc đề ra và thực hiện ở những khía cạnh khác nhau để từ đó có thể đƣa ra những khái niệm về chính sách một cách cụ thể.
Theo từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Dƣới nghiên cứu của tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội”. Trên cơ sở xem xét các định nghĩa về chính sách thì tác giả đƣa ra khái niệm về chính sách nhƣ sau: Chính sách là các trình hành do các quan, lý ra nào vi mình.
Thông qua khái niệm về chính sách thì ta có thể thấy khái niệm trên có một số đặc điểm nhƣ sau: là, chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra. Những chính sách của chủ thể này nhằm thực hiện một yêu cầu, một nhiệm vụ nào đó đã đƣợc định sẵn và đã đƣợc nhất trí thông qua. Việc thực hiện các chính sách hƣớng đến một đối tƣợng, chủ thể nhất định nhằm đạt đƣợc các kết quả trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia nói chung. Hai là, các chính sách đƣợc ban hành căn cứ vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế của một quốc gia, từng địa phƣơng, trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể.
Do đó, việc thực hiện các chính sách này luôn có các quy hoạch, kế hoạch thực hiện một cách tỉ mỉ và cụ thể nhằm cụ thể hóa các chính sách thành hiện thực trong thực tiễn tại quốc gia, địa phƣơng, ngành, lĩnh vực đó. 15 Ba là, chính sách đƣợc ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó; chính sách đƣợc ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Bên cạnh khái niệm về chính sách thì khái niệm đƣợc đề cập tới nhƣ là một khái niệm có liên quan mật thiết đến khái niệm chính sách đã đƣợc đƣa ra. Hiện nay chƣa có một khái niệm nào hoàn chỉnh và cụ thể về .
Tuy nhiên trên cơ sở khái niệm về chính sách thì có thể đƣa ra khái niệm này nhƣ sau: sách trên. Nhƣ vậy, thực thi chính sách có vị trí rất quan trong và là khâu có tác động mạnh mẽ đến các chính sách đã đƣợc thông qua. Thực thi chính sách là việc làm của các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nhằm từng bƣớc thực hiện mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Thông qua quá trình thực thi chính sách giúp cho các chính sách đã đƣợc ban hành áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn và khẳng định vai trò quan trọng của chính sách đó đối với các chủ thể có liên quan đến chính sách trên.
Từ kết quả thực thi chính sách sẽ giúp cho việc rút kinh nghiệm, hoàn thiện chính sách đạt hiệu quả cao trong thực tế. Điều này khẳng định vai trò của việc thực thi chính sách là vô cùng quan trọng và cụ thể.