CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm cơ bản về an toàn giao thông đường bộ 1. Giao thông đường bộ Giao thông là thuật ngữ dùng để chỉ sự liên hệ giữa hai điểm (khu vực), tuy nhiên thuật ngữ giao thông gắn liền với từng ngữ cảnh. Cụ thể trong lĩnh vực GTVT, thuật ngữ giao thông được hiểu trong từng ngữ cảnh như sau: Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho phương tiện hoạt động và con người đi lại, thì khi đó giao thông được hiểu là toàn bộ cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao thông và được cụ thể hóa là mạng lưới hay hệ thống giao thông gồm cả giao thông động (phục vụ sự di chuyển của phương tiện hay đi lại của con người) giao thông tĩnh (phục vụ cho việc dừng đỗ thực hiện các tác nghiệp vận chuyển đầu cuối cho phương tiện và cho con người ).
Về việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở thì giao thông ở đây có nghĩa là chuyển dịch người và phương tiện trên tuyến đường giao thông từ nơi này sang nơi khác. Dòng phương tiện và người di chuyển trên đường được gọi là dòng giao thông (giao thông ở đây là tính từ), và sự va chạm ngẫu nhiên giữa chúng tạo nên tai nạn giao thông (phân biệt với các tai nạn khác như tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp,. Tuy nhiên, trong thực tế, nhất là ở Việt Nam, trên đường ngoài phương tiện và người ra, còn có sự góp phần của các vật nuôi mà người dẫn đi trên đường, đó là vấn đề cần xem xét khi bàn về vấn đề an toàn giao thông. Do vậy, trong đề tài này khái niệm dòng giao thông được hiểu là tập hợp các phần tử di chuyển trên đường bộ.
Vận tải đường bộ Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển. Đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá). Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi.
Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di 4 chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Vận tải đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để vận chuyển người, hàng hóa trên đường bộ 1. An toàn giao thông(ATGT) và tai nạn giao thông(TNGT) đường bộ An toàn giao thông(ATGT):Là hoạt động giao thông được đều chỉnh bằng một hệ thống quy phạm pháp luật bắt buột mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo nhằm hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra và bảo đảm giao thông tiện lợi,có hiệu quả tiết kiệm được các cước phí vận chuyển, thời gian trên đường, đảm bảo được yêu cầu mỹ quan giao thông đô thị, chống ô nhiễm môi trường. Đánh giá mức độ ATGT là việc xem xét sự tác động của quá trình xây dựng đường, luật lệ giao thông, điều kiện thời tiêt, mức độ an toàn của các phương tiện cũng như khả năng và kỹ năng điều khiển phương tiện giao thông của người tham gia giao thông.
Tai nạn giao thông(TNGT): là việc bất ngờ, xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của của con người, khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt đông trên đường giao thông công cộng nhưng chủ quan vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc gặp phải các tình huống sự cố không kịp phòng tránh đã gây ra thiệt hại nhất định về người và tài sản cho xã hội. Các nguyên nhân và yếu tố gây TNGT: Qua nghiên cứu và phân tích, người ta thấy rằng quy mô tai nạn phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố sau: Dân sô.Dân số càng tăng thì số tai nạn càng nhiều. Số phương tiện tham gia giao thông. Quy mô mạng lươi giao thông.
Hệ số sử dụng phương tiện giao thông. Tình hình đường xá, tình hình thiết bị và hoàn thiện của chúng. Tình hình kỹ thuật của phương tiện giao thông. Khi khảo sát các nguyên nhân, phân tích và đánh giá các tai nạn giao thông xảy ra trên đường ta cần dựa vào mối quan hệ hữu cơ của cả hệ thống tổng hợp”Lái xe-Ô tô-Đường-Môi trường” Tai nạn giao thông xảy ra có thể do một hay nhiều yếu tố trong hệ thống tổng hợp trên gây ra.
5 Dưới đây là những phân tích cụ thể: 1. Đối với lái xe An toàn xe chạy trước tiên phụ thuộc vào người điều khiển các phương tiện tham gia giao thông là lái xe. Trạng thái tâm lý cũng như những nhận thức hiểu biết của lái xe trong khi điều khiển xe chạy là những thông số cơ bản liên quan đến an toàn xe chạy. Sự hiểu biết, tính nhạy cảm của lái xe bao gồm hệ thống cảm nhận và hệ thống phản ứng của lái xe trước mọi tình huống xảy ra trên đường.Ví dụ:phản ứng của lái xe khi mắt bị lóa trước ánh đèn pha của xe đi ngược chiều, khi cho xe chạy trên các phần đường lúc trời tối không đủ điều kiện ánh sáng hoạc gặp chướng ngại vật có độ tương phản không đủ phát hiện sự vật.
Phản ứng không nhanh nhạy, hiểu biết và thiếu kinh nghiệm của lái xe sẽ là nguyên nhân gây mất an toàn chạy xe. Tai nạn giao thông cũng có thể xảy ra nếu lái xe phản ứng không kịp thời trước các tình huống nguy hiểm do lái xe xao nhãng, thiếu tập trung nhất là vào ban đêm. Đối với ô tô Mức độ an toàn giao thông đối với ô tô phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: Độ ổn định của xe, hệ thống điều khiển và hệ thống hãm xe. Hệ thống hãm xe động lực bao gồm: các bộ phận hãm phanh, các bánh xe, bộ phận tay lái và khối lượng của ô tô.
Hiện tượng mất an toàn do ô tô và tai nạn giao thông gây ra hệ thống hãm phanh bất thường xuất phát từ các nguyên nhân sau: Loại xe được trang bị hệ thống phanh hơi thì buông hơi không khí làm hơi nén bị tổn thất, mất mát. Bộ guốc của má phanh bị mài mòn. Hệ thống điều tiết các lực hãm phanh không nhanh nhạy. Lốp xe bị mài mòn quá nhiều.
Các chi tiết của tay lái bị mòn dơ, không liên kết chặt chẽ với nhau. Đối với đường và môi trường Tai nạn giao thông xảy ra nguyên nhân do đường và môi trường xung quanh đường bao gồm:các điều kiện về đường và ảnh hưởng của các nhân tố thời tiết, khí 6 hậu đến tình trạng mặt đường, lề đường cũng như nền đường nói chung. Các đặc trưng hình học của tuyến đường thông qua thiết kế không đạt yêu cầu trên bình đồ, trắc dọc, trắc ngang của tuyến như: khoảng cách tầm nhìn một chiêu, tầm nhìn hai chiều, các bán kính đường cong….Các trang thiết bị đặt trên đường như hệ thống chiếu sáng , biển báo…. Các đặc trưng khai thác của mặt đường không thỏa mãn yêu cầu về độ nhám, độ bằng phẳng cũng như ảnh hưởng xấu của thời tiết khí hậu làm cho mặt đường ẩm ướt, bụ bặm… 1.
Các chỉ tiêu đánh giá an toàn giao thông 1. Chỉ tiêu đánh giá mức độ thiệt hại Đánh giá mức độ thiệt hại từ các tai nạn giao thông là một lĩnh vực rất phức tạp và đến nay thế giới vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện.Thiệt hại từ tai nạn giao thông có thể được chia thành hai loại thiệt hại về người và thiệt hại về tài sản: Thiệt hại về người: Loại thiệt hại này rất khó lượng hóa, phần lớn các nước trên thế giới dùng phương pháp GDP bình quân đầu người để lượng hóa.Tuy nhiên các quốc gia khác nhau có quan điểm khác nhau về vấn đề này và có những định mức khác nhau. Theo góc độ thiệt hại về người, để đánh giá mức độ an toàn giao thông, thế giới thường dùng 3 chỉ tiêu cơ bản sau: - Tỷ lệ số người thiệt mạng do tai nạn giao thông/100.000 người dân; - Tỷ lệ số người thiệt mạng do tai nạn giao thông/100.000 phương tiện cơ giới; - Tỷ lệ số người thiệt mạng do tai nạn giao thông/1.km hoặc phương tiện.km Số lượng người chết được thống kê theo tiêu chuẩn khác nhau, có quốc gia chỉ thống kê số người thiệt mạng ngay tại hiện trường, có quốc gia thống kê số người thiệt mạng trong vòng 6 ngày, hoặc 15 ngày sau khi xảy ra va chạm. Các quốc gia phát triển thường 30 ngày sau khi va chạm.
Theo tiêu chuẩn này một người thiệt mạng do chấn thương từ va chạm giao thông trong vòng 30 ngày kể từ khi họ có va chạm được tính là thiệt mạng do vụ tai nạn GT đó. Chỉ tiêu thứ nhất được dùng để đánh giá an toàn giao thông tổng thể của xã hội, chỉ tiêu thứ hai và thứ ba dùng để đánh giá đánh giá mức độ an toàn của dòng giao thông (có tính đến số lượng phương tiện và cường độ sử dụng phương tiện/lượng luân chuyển). Một quốc gia có tỷ lệ thiệt mạng/100.000 dân thấp không 7 đồng nghĩa với việc giao thông tại quốc gia đó an toàn vì mức độ an toàn giao thông còn phụ thuộc vào việc quốc gia đó có nhiều phương tiện cơ giới không, và mức độ sử dụng phương tiện cơ giới như thế nào (Thống kê cho thấy càng có nhiều phương tiện và càng sử dụng phương tiện nhiều thì khả năng xảy ra va chạm càng lớn). Thiệt hại về tài sản, phương tiện, các dịch vụ hỗ trợthiệt hại, và các chi phí xã hội phải chi trả có thể được lượng hóa được tương đối chính xác vì các nước đều có các định mức và đơn giá cho từng hạng mục công việc cụ thể.
Lượng hàng hóa-mức độ thiệt hại từ tai nạn giao thông Trên cơ sở các chỉ tiêu, cách tính toán, có thể tiến hành lượng hóa thiệt hại từ tai nạn giao thông. Thiệt hại này gồm hai dạng: Thiệt hại về người. Thiệt hại về tài sản. Về nguyên tắc, toàn bộ các chi phí liên quan đến việc khắc phục hậu quả của tai nạn giao thông đều cần được tính vào các chỉ tiêu trên.Ngoài ra các vụ tai nạn giao thông chưa được thống kê cũng cần được đưa vào tính toán.