Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên quy mô toàn cầu, rừng đang bị phá hoại và tỷ lệ mất rừng đang xảy ra chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Những khu rừng rộng lớn phương Bắc chưa từng có người đặt chân đến trước đây nay đang trở thành đối tượng khai thác gỗ. Nhiều khu rừng nguyên sinh vùng ôn đới ở hầu hết các nước công nghiệp đang tiếp tục bị biến mất hoặc bị phá hủy. Rừng mưa nhiệt đới đang bị thu hẹp với tốc độ 15 triệu hécta mỗi năm bởi nhu cầu của con người như lấy đất canh tác, gỗ, thực phẩm, năng lượng, khai khoáng.
Sự phá hủy rừng đồng nghĩa với việc mất đi phần lớn tính đa dạng sinh học trên bề mặt trái đất và góp phần làm tăng thêm các chất khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển. Tình trạng mất rừng còn dẫn đến hiện tượng xói mòn đất, sa mạc hóa diễn ra ngày một nghiêm trọng. Tính bình quân, hàng năm trên thế giới mất đi khoảng 12 tỷ tấn đất do xói mòn, với lượng đất này có thể sản xuất 50 triệu tấn lương thực (FAO, 1995) [39]. Hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới bị cạn dần và tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện bị giảm sút.
Phá rừng còn đe doạ đời sống biết bao nhiêu con người khi mà rừng cung cấp cho họ lương thực, thực phẩm, nơi ở, việc làm. Nhiều chính sách, chủ trương lớn và các công trình nghiên cứu nhằm giải quyết những mối quan tâm trên đã và đang thu hút những chuyên gia đầu ngành ở các nước trên thế giới. Có thể nói vấn đề sử dụng đất (SDĐ) bền vững hiện nay đang là đề tài thời sự được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Khái niệm quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ hợp lý có hiệu quả cao 4 thông qua việc phân phối quỹ đất của cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất, bảo vệ môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất vừa mang tính kinh tế, kỹ thuật vừa mang tính pháp chế. Về mặt pháp lý thì đất đai được nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào các mục đích khác nhau. Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh các mối quan hệ đất đai. Các đối tượng sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách về đất đai của Nhà nước.
Khi giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cần xác định rõ mục đích của việc sử dụng. Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất. Song điều đó chỉ thực hiện được khi tiến hành đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và pháp chế. Quy hoạch sử dụng đất tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả.
Quy hoạch sử dụng đất phân phối đất đai cho tất cả các ngành, các lĩnh vực và tổ chức sử dụng đất hợp lý giữa các địa phương, các ngành, lĩnh vực với nhau. Vì mỗi một ngành, một lĩnh vực cần một loại diện tích đất khác nhau, thích hợp với một loại đất khác nhau. Chính việc sử dụng đất hợp lý, hiệu quả đã đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Tình hình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất 1.
Trên thế giới Từ thế kỷ XIX loài người đã bắt đầu nghiên cứu về đất. Kết quả của những công trình nghiên cứu về phân loại xây dựng bản đồ và quản lý đất đai đã làm cơ sở quan trọng cho việc quản lý và sử dụng đất đai, tăng năng suất trong sản xuất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp Châu Âu 5 phối hợp với FAO tổ chức. Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến loại nhỏ,… phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai.
Năm 1975, Wink đã phân 6 nhóm chính về dữ liệu của tài nguyên cần thu thập cho quy hoạch sử dụng đất như: khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn đất, tài nguyên nhân tạo như hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật. Trên thế giới, mô hình SDĐ đầu tiên là du canh, một kiểu SDĐ nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conkli, 1980). Đây được xem là một phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên. Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng những cuộc cách mạng về kỹ thuật và trồng trọt.
Cho mãi đến gần đây du canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân Sam ở Bắc Âu (Cox và Atkinss, 1979; Ruddle và Manshard, 1981). Mặc dù có nhiều mặt hạn chế về môi trường, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi du canh được coi như là sự lãng phí về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây nên xói mòn và thoái hóa đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hóa xảy ra nghiêm trọng. Thật vậy, phá rừng để SDĐ làm nương rẫy trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể là lãng phí nếu ta nhận thức rừng chỉ có giá trị duy nhất là từ gỗ (Grinnell, 1975, arca, 1987) [36].
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology), đất đai được coi là vật mang của hệ sinh thái. Đất đai được định nghĩa đầy đủ là: Một mảnh đất được xác định về mặt địa lý là diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là không 6 khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng mảnh đất đó của con người hiện tại và trong tương lai (Christianity, L. Từ định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản: đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con người, v. Blum A, Mayer J, Golan G (1988) [31] cho rằng, một định nghĩa nào đó về SDĐ chỉ dựa trên nền nông nghiệp là không hoàn chỉnh, bởi vì có ít nhất năm kiểu SDĐ khác tác động qua lại mang tính cạnh tranh với đất nông nghiệp theo không gian và thời gian.
Vì vậy, tác giả này đã định nghĩa SDĐ là việc sử dụng đồng thời về mặt không gian hoặc thời gian tất cả những chức năng này, mặc dù những chức năng đó không luôn luôn được kết hợp trên cùng một diện tích nào đó cho trước. Định nghĩa trên đây đã được chấp nhận rộng rãi trên thế giới và được luận văn vận dụng trong việc xây dựng quan điểm và phương pháp nghiên cứu. Các tác giả Lund và SoDa (1987) [38] đã đưa ra hệ thống thông tin cần thiết cho quy hoạch sử dụng rừng. Trước đó vào năm 1984 Bohlin đã đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin cho quy hoạch rừng trồng và nhiều tác giả khác như Staveren (1983) [40], các tư vấn về quốc tế và đất đai ILACO (1985) [37], Dorney (1989) [35] đưa ra và hoàn thiện dữ liệu cho quy hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Năm 1988, Dent và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp và mối quan hệ của các cấp khác nhau: Kế hoạch sử dụng đất cấp Quốc gia, cấp vùng (tỉnh, 7 huyện), cấp cộng đồng (xã, thôn). Ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước). FAO đã đề xuất phương pháp trong nghiên cứu đánh giá đất đai và sử dụng đất trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và có tính đến hiệu quả của các loại hình sử dụng đất.
Quá trình đánh giá đất đai của FAO cơ bản gồm các bước: Xác định mục tiêu, thu thập số liệu, tài liệu liên quan, xác định loại hình sử dụng đất, xác định và xây dựng bản đồ đất, đánh giá mức độ thích hợp của loài hình sử dụng đất, xem xét tác động môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, xác định loại hình sử dụng đất thích hợp. Tùy theo đặc điểm của mỗi nước mà trên thế giới có nhiều phương pháp quy hoạch. Nhưng nhìn chung có hai trường phái quy hoạch chính sau: - Tiến hành quy hoạch tổng thể sau đó mới nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành, tiêu biểu như ở Đức, Úc. - Tiến hành quy hoạch nông nghiệp làm nền tảng sau đó mới quy hoạch tổng thể.
Lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lao động và đất đai trở thành yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu, tiêu biểu là Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa. Để có một phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1992, FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch đất đai một cách có hiệu quả, bền vững đáp ứng tốt nhất yêu cầu hiện tại và đảm bảo an toàn cho tương lai, chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường gắn với khả năng phát triển bền vững. Phương pháp quy hoạch đất đai này được áp dụng ở 3 mức: quốc gia, huyện, xã.
Về các mô hình nông lâm nghiệp, một trong những thành công cần được đề cập tới đó là việc các nhà khoa học của Trung tâm phát triển nông thôn Bapstit Mindanao Philippiness tổng hợp, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 đến nay, đó là mô hình kỹ thuật canh tác đất dốc SALT 8 (Slopping agricultural Land Technology).