CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG GẮN VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định. Đối với một NHTM, rủi ro luôn là yếu tố tất yếu đồng hành cùng hoạt động ngân hàng và chúng ta không thể loại trừ mà chỉ có thể khắc phục và phòng tránh sao cho xác suất xảy ra rủi ro ở mức thấp nhất.
Một ngân hàng không chỉ đối mặt với một hay hai loại rủi ro mà song song với nó là hàng loạt các loại rủi ro khác nhau như: rủi ro lãi suất, rủi ro tỉ giá, rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro tín dụng. Trong đó thì rủi ro tín dụng chiếm tỉ trọng cao nhất 8 so với các loại rủi ro kể trên, chiếm tới khoảng 70% trong tổng rủi ro của ngân hàng. Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác. Vậy RRTD là gì? Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, có thể hiểu RRTD là biến cố xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế là việc khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm gốc và lãi) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng.
Các loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro giao dịch Là rủi ro liên quan đến những khoản cho vay riêng lẻ, là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho khoản vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: 9 Rủi ro lựa chọn: Rủi ro do ngân hàng có sai sót liên quan tới quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn quyết định tài trợ tới lựa chọn sai khách hàng hay đối tượng cho vay. Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro liên quan tới công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kĩ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề, định mức cho vay và thời hạn cho vay không hợp lý,… Rủi ro đảm bảo: Rủi ro đánh giá sai giá trị của TSĐB, nắm giữ các tài sản đảm bảo không hiệu quả, thiếu tính chính xác trong việc đưa ra tiêu chuẩn đảm bảo như: Mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,… Rủi ro danh mục Là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục gồm: Rủi ro nội tại: là rủi ro mà tự bản thân nó có, xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng quá tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, trong cùng một địa lý nhất định, hoặc cùng một loại cho vay có rủi ro. Căn cứ vào cấp độ rủi ro Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ theo đúng hạn đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác đã trì hoãn trả nợ. Rủi ro mất vốn: là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể đòi lại được tiền do khách hàng vay mất khả năng chi trả.
Trong trường hợp này, ngân hàng chỉ còn cách trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp để đỡ một phần nợ gốc. Điều này gặp phải nhiều vấn đề khó khăn vì giá trị của tài sản thanh lý bị giảm rất nhiều so với giá trị thẩm định ban đầu, bản thân tài sản thanh lý đó rất khó bán, do đó tâm lý không ai muốn mua chúng. Giá trị của tài sản thanh lý thường bị chia sẻ với các chủ nợ được ưu tiên trước như: Nộp 10 thuế cho Nhà nước, trả lương cán bộ nhân viên,… Vì vậy, giá trị dùng để trả nợ cho ngân hàng còn ít hơn hoặc có khi chi phí phát sinh trong quá trình thanh lý gần bằng hoặc ít hơn số tiền nhận được. Nói chung những món nợ thuộc loại rủi ro này rất phức tạp, khó thu hồi, và là gánh nặng thực sự đối với ngân hàng.
Đặc điểm của rủi ro tín dụng RRTD có tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng, RRTD xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. RRTD mang tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân tức là RRTD xảy ra ở rất nhiều dạng và phụ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra RRTD. Hình thức và hậu quả của RRTD gây ra không thể lường trước được, tùy thuộc vào từng mức độ RRTD của khoản vay. RRTD có tính tất yếu: tình hình thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro với ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là người đi vay và người cho vay. Người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian không cố định, tuân theo sự điều phối của những điều kiện nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, đây được coi là đối tượng thứ ba trong quan hệ tín dụng. RRTD xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan.
Còn rủi ro xuất phát từ người đi vay và người cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan Môi trường kinh tế 11 Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng.
Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao chùm đến các hoạt động của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. Môi trường chính trị Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nếu xảy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…).
Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng. Môi trường pháp lý Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật. Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là sự sắc nhiễu của các cơ quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi ro. Do đó, xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi 12 trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các NHTM.
Môi trường cạnh tranh Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM. Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: Thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh ngân hàng luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của ngân hàng. Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng.