CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu tài nguyên thực vật trên thế giới Đời sống con người gắn liền với cây cỏ xung quanh. Từ tiền cổ con người đã biết hái lượm các sản phẩm thực vật (để ăn, mặc, chữa bệnh, làm lều, nhà, làm công cụ…). Đồng thời với quá trình tiến hoá và phát triển của mình, con người cũng cải tạo những cây có ích theo những nhu cầu sống khác nhau (gây trồng, tạo giống, chăm bón, thuần hoá…) tạo nên tập đoàn cây trồng (lúa, ngô, khoai, mì, đậu, lạc, các cây ăn quả, các cây công nghiệp…).
Nhiều tác giả đã cho rằng lịch sử nghiên cứu thực vật trên thế giới có quan hệ chặt chẽ với lịch sử phát triển của Trung Quốc, Ai Cập, La Mã, Hy Lạp và Đông Ả Rập cổ đại. Đồng thời với sự phát triển của khoa học, công nghệ nói chung, các dẫn liệu về tìm kiếm khai thác, chế biến, gây trồng … tài nguyên thực vật đã dần được tích luỹ, khái quát…; con người đã đi tới những giả thuyết, những lý thuyết trên cơ sở hệ thống hoá những tư liệu và cuối cùng là những quy luật. Từ những năm cuối thế kỷ XX, nhiều tạp chí khoa học chuyên về tài nguyên thực vật đã được xuất bản ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở Trung Quốc, từ những năm 50 của thế kỷ XX, các phòng nghiên cứu về tài nguyên thực vật đã được thành lập và phát triển ở hầu hết các viện nghiên cứu về thực vật thuộc hệ thống Viện Hàn lâm khoa học.
Năm 1961, Trung Quốc đã xuất bản bộ sách “Trung Quốc kinh tế thực vật chí” với 2 tập gồm khoảng 3. Những năm gần đây, được sự tài trợ của Hà Lan, Cộng đồng Châu Âu và một số tổ chức quốc tế, các nước Đông Nam Á đã cùng nhau thành lập một chương trình nhằm biên soạn bộ Cẩm nang về tài nguyên thực vật trong khu 4 vực (Plant Resources of South-East Asia - viết tắt là PROSEA) trong thời gian từ 1987 - 2000 và sẽ biên tập khoảng 5.000 loài cây thuộc 20 nhóm. Sự giàu có và đa dạng của giới thực vật trên trái đất là nguồn tài nguyên quý giá của nhân loại. Các nhà thực vật học đã dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.
Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật Hạt kín 5.000 loài thực vật Hạt trần 6.000 loài Quyết thực vật 14.000 loài Nấm và các loài thực vật bậc thấp khác Nhiều nhà thực vật, di truyền, nông nghiệp đã đưa ra các con số thống kê ước đoán số loài thực vật ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật Hạt kín phân bố ở các châu lục như sau: Châu Mỹ: có khoảng 97.000 loài, trong đó: Canađa + Hoa Kỳ 25.000 loài Mêhicô + Trung Mỹ 17.000 loài Nam Mỹ 56.000 loài Đất lửa + Nam Cực 1.000 loài Châu Âu: có khoảng 15.000 loài, trong đó: Trung và Bắc Âu 5.000 loài Nam Âu, vùng Bancăng và Capcadơ10.000 loài Châu Phi: có khoảng 40.500 loài, trong đó: Các vùng nhiệt đới ẩm 15.000 loài Nam Phi 6.500 loài Bắc Phi + Angieri, Marốc và vùng phụ cận khác: 4.500 loài Abit xini 4.000 loài Tuynidi và Ai Cập 2.000 loài Xomali và Eritrea 1.000 loài Châu Á: có khoảng 125.000 loài, trong đó: Đông Nam Á 80.000 loài Các khu vực nhiệt đới Ấn Độ 26.000 loài Viễn Đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc 6000 loài Xibêria thuộc liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á 5.000 loài Châu Úc: có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông Bắc Úc 6.000 loài Tây Nam Úc 5.500 loài Lục địa Úc 5.000 loài Taxman và Tân Tây Lan 4.500 loài Tuy số loài thực vật rất lớn, song đến nay số loài đã được sử dụng, được nghiên cứu hoặc trồng trọt lại rất nhỏ, chúng chỉ chiếm trên dưới 10% (từ 25. Trong đó số loài được sử dụng nhiều và tương đối thường gặp vào khoảng 12. Hầu hết các loài thực vật bậc cao đang được gây trồng và khai thác cho các nhu cầu khác nhau phổ biến hiện nay là có nguồn gốc từ châu Á (chủ yếu là Nam và Đông Nam Á) - chiếm 65 - 70%; tiếp đến là từ châu Mỹ 18 - 20%, ở châu Âu vào khoảng 11 - 12%, còn ở châu Phi và châu Úc chỉ độ 4 - 5%.
6 Như vậy tiềm năng về nguồn tài nguyên thực vật ở từng khu vực nói chung và ở Đông Nam Á nói riêng vô cùng lớn nếu rừng còn được bảo vệ và hạn chế khai thác. Tình hình nghiên cứu tài nguyên thực vật ở Việt Nam Kinh nghiệm khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật đã được tổ tiên ta tích luỹ từ xa xưa. Những phát hiện ở nhiều nơi trên đất nước ta về khảo cổ đã khẳng định từ khoảng trên 5.000 năm trước đây (3.000 năm trước Công nguyên) cha ông ta đã biết trồng lúa, dùng tre, song mây làm công cụ. Nền công nghiệp lúa nước cũng đã được hình thành và phát triển từ khoảng 2.000 năm trước đây.
Nền nông nghiệp lâu đời ở nước ta đã lại ngày càng phát triển, nguồn tài nguyên càng đa dạng, càng phong phú do những yếu tố sau: Đất nước ta nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu gió mùa, ẩm; điều kiện địa hình đa dạng nên hệ thực vật càng phong phú và đa dạng; nước ta có nhiều dân tộc khác nhau. Ngoài các dân tộc sống định cư tại chỗ (Việt, Mường, Tày…) thì còn có nhiều dân tộc có tập quán du canh du cư hoặc được di cư từ nhiều vùng khác nhau đến (dân tộc Thái từ khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên, dân tộc Mông từ khoảng thế kỷ XI - XVI…), mỗi dân tộc đều chọn lọc, gieo trồng những giống cây phù hợp với nhu cầu sống của mình và có bản sắc sử dụng thực vật khác nhau; nền kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, hái lượm tự cấp tự túc bắt buộc con người phải tìm kiếm, chọn lựa các loài thực vật có giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng các nhu cầu sống của mình; sự giao lưu với các nước, các dân tộc và sự xâm lược của thực dân cũng đã làm phong phú thêm nguồn tài nguyên thực vật hiện có ở nước ta. Đến nay một số loài cây trồng vẫn chưa có đủ căn cứ để khẳng định là cây nhập nội hay là cây bản địa. Ví dụ cây Bông có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng đã lại có mặt ở nước ta từ đầu Công nguyên, cây Khoai lang được ghi 7 nhận có ở nước ta từ thế kỷ XIII (trước khi Cristop Côlông phát hiện ra châu Mỹ).
Có thể nói dân tộc Việt Nam đã có kinh nghiệm, có truyền thống lâu đời về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật. Như vậy có thể tạm phân chia thành 3 thời kỳ lớn: Thời kỳ từ ngày dựng nước đến trước khi bị thực dân Pháp xâm lược. Tiêu biểu nhất trong giai đoạn lâu dài này là các công trình về cây thuốc của Tuệ Tĩnh (Thế kỷ XV) và Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII). Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Để khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã cho điều tra các cây cung cấp nguyên liệu (cây làm thuốc, cây có sợi, cây có dầu béo, cây có tinh dầu, cây lấy gỗ…). Đồng thời với việc biên soạn và xuất bản bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương (Flore générale de L’Indochine) thì các tập sách khác về tài nguyên thực vật cũng được công bố (Danh mục các sản phẩm thực vật ở Đông Dương (Catalogue des produits de l’Indochine) được xuất bản liên tục 6 tập từ 1917 đến 1941, rồi các tập Cây gỗ ở Đông Dương…). Cũng trong thời gian này, nhiều trại thí nghiệm được thành lập, nhiều loại cây trồng mới (Cao su, Cà phê, Cọ dầu, Ca cao, Côla, Canh ký na, Óc chó…) được nhập nội và phát triển thành những đồn điền. Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, nhất là sau năm 1954 và đặc biệt sau khi thống nhất đất nước, công tác điều tra nghiên cứu nhập nội và thuần hoá tài nguyên thực vật được đẩy mạnh và mở rộng.
Nhiều Viện nghiên cứu, nhiều trường Đại học, nhiều ngành sản xuất cùng tiến hành nghiên cứu, khai thác, sử dụng tài nguyên thực vật để phục vụ cho quốc kế dân sinh. Nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Song bên cạnh những thành công còn bộc lộ nhiều nhược điểm, đó là: Phạm vi nghiên cứu rộng, nhưng chưa sâu và thiếu hệ thống nên chưa đề ra được các biện pháp khai thác, sử dụng, 8 phát triển toàn diện đạt hiệu quả cao đối với từng đối tượng, từng cây tài nguyên; chưa nghiên cứu đầy đủ tính đa dạng của từng loài (về sinh học, sinh thái, chất lượng sản phẩm…) cũng như các biện pháp bảo vệ; ít quan tâm đến nguồn tài nguyên thực vật bậc thấp (tảo, .) và nấm; chưa kết hợp chặt chẽ việc khai thác, sử dụng với tái sinh, bảo vệ, phát triển; chưa quan tâm đầy đủ đến việc sử dụng hợp lý, toàn diện và tổng hợp với từng loại tài nguyên; ít quan tâm tới nghiên cứu thuần hoá và tuyển chọn giống; chưa quan tâm đến công tác tổng kết, phân tích và hệ thống hoá các dẫn liệu đã có; các phương pháp nghiên cứu còn thiếu đồng bộ, sự phối hợp giữa các cơ sở, các lĩnh vực nghiên cứu còn thiếu chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao. Ở nước ta, trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” (Flore Générale de l’Indochine) và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng trên 240 họ với khoảng trên 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [29].
Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật đã dự đoán con số đó có thể lên tới 10. Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành Hạt kín ở nước ta [1,2]. Sau đó, Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận trong Hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên. Chúng thuộc về 2.011 chi và 290 họ.
Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam hiện đã lên tới 10.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 7% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới.