ĐẶT VẤN ĐỀ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (KBTTN Pù Luông) được thành lập theo Quyết định số 495/QĐ-UB, ngày 27/03/1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trưng cho vùng đất thấp trên núi đá.201 hộ dân sống trong vùng lõi và vùng đệm KBTTN Pù Luông nằm trên địa giới hành chính của 9 xã thuộc 2 huyện. Cả một quá trình lịch sử; cuộc sống của người dân đều dựa vào canh tác nông nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên; phần lớn các hộ gia đình bị thiếu ăn nhiều tháng trong năm. Tình trạng này càng trở nên trầm trọng khi khu bảo tồn được thành lập; người dân bị cấm khai thác các nguồn tài nguyên mà họ vẫn sử dụng trước đây; cấm mở mang thêm diện tích canh tác nông - lâm nghiệp trong khi dân số đã gia tăng (Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, 2013). Việc thực thi chính sách quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (QLTNR dựa vào CĐ) tại KBTTN Pù Luông được triển khai từ cuối năm 2012 khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg) và ban quản lý KBTTN Pù Luông khai thông được nguồn kinh phí đầu tư từ Ngân hàng thế giới.
Phương thức quản lý rừng này lại tiếp tục được duy trì khi Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020 (Nghị định số 75/2015/NĐ-CP) và Quy định về khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông-lâm nghiệp Nhà nước (Nghị định số 168/2016/NĐ-CP). Theo bối cảnh dân sinh - kinh tế - văn hóa của mỗi cộng đồng dân cư, cách triển khai phù hợp sẽ quyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 định sự thành công của chính sách QLTNR dựa vào CĐ. Mặt khác, chỉ khi cộng đồng dân địa phương thực sự tham gia vào các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học rừng và các hoạt động bảo tồn này thực sự mang lại những lợi ích kinh tế xã hội cho họ thì lúc đó việc thực thi chính sách QLTNR dựa vào CĐ mới có được hiệu quả cao. Xuất phát từ bối cảnh trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”, với mong muốn góp phần đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phƣơng thức quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng Cộng đồng được hiểu là những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý nơi họ cùng nhau nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên, cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như những điều kiện chung khác tác động đến cuộc sống của họ (Hoàng Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015). Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (QLTNR dựa vào CĐ) là một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng tại địa phương (Vandergeest, 2006). Trên thực tế việc quản lý tài nguyên rừng luôn song hành với quản lý đất rừng và được thể hiện bằng thuật ngữ “rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp”.
Ở Việt Nam, cộng đồng tham gia vào quản lý rừng và đất rừng dưới ba hình thức (theo Nguyễn Bá Ngãi, 2009) như sau: (1). Cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ nhiều đời nay- đây chính là mô hình quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ); (2). Chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; (3). Cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức nhà nước như: lâm trường, ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ… Tại mỗi quốc gia, địa phương cụ thể; cho dù được tổ chức dưới hình thức nào thì việc quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng vẫn là phương thức đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
Tuy nhiên, việc hiểu không đúng về “tài sản công cộng” theo thuyết của Garrett Hardin (Hardin, 1968) có thể ảnh hưởng xấu tới các nỗ lực tăng cường quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng. Hardin cho rằng, khi tài nguyên là của cả cộng đồng, không phải của riêng ai; từng cá nhân sẽ tranh thủ khai thác tài nguyên thật nhiều trước khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chúng bị người khác khai thác, dẫn đến tài nguyên bị cạn kiệt nhanh. Thực ra các mối quan hệ xã hội và thể chế cộng đồng là những yếu tố quan trọng hạn chế chủ nghĩa cá nhân và hậu quả của nó đối với việc sử dụng quá mức gây cạn kiệt tài nguyên. Do đó, tốt hơn là tìm hiểu hiện trạng và vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên công cộng hơn là việc xây dựng chính sách dựa trên lý thuyết của Hardin về: “thảm họa công cộng” - nghĩa tiếng Việt là: “cha chung không ai khóc”.
Quyền sử dụng rừng và đất rừng là yếu tố quan trọng trong QLTNR dựa vào CĐ. Khi quyền của cộng đồng bị suy giảm và quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường thì việc quản lý tài nguyên theo truyền thống bị ảnh hưởng tiêu cực (Colchester, 1995). Lynch và Alcorn (1994) tranh luận rằng; người dân địa phương có thể quyết định về quản lý sử dụng tài nguyên trên thực tế ngay cả trong trường hợp nhà nước đã công bố quyền sở hữu; mặc dù quyết định của chính phủ có thể làm mất đi động lực quản lý tài nguyên bền vững của cộng đồng. Vì thế cần bảo vệ thể chế, quyền lực chung của cộng đồng, đặc biệt là quyền luật tục; đồng thời cải cách quyền sở hữu đất lâm nghiệp nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Thế nào là mô hình tốt về quản lý rừng dựa vào cộng đồng? Vì sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng về cả hình thức và mức độ, nên rất khó để nói mô hình nào về quản lý rừng dựa vào cộng đồng (QLR dựa vào CĐ) ở Việt Nam hay ở quốc gia khác là tốt nhất; vì mỗi mô hình thích ứng cho một cộng đồng cụ thể với những đặc trưng riêng về dân cư, địa lý, thể chế và văn hóa. Để xem xét mức độ thành công của một mô hình QLR dựa vào CĐ, cần phải có các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể. Về lý thuyết, những tiêu chí cơ bản để đánh giá một mô hình QLR dựa vào CĐ (theo Apel và cộng sự, 2002) có thể bao gồm: tính hợp lý trong thực hiện, tính hiệu quả (lợi ích thu được) và tính bền vững (duy trì lâu dài). Mỗi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tiêu chí lại có các chỉ số cụ thể; các khía cạnh của tính hợp lý trong thực hiện sẽ có: chỉ số vận hành (phối hợp tham gia của cộng đồng), chỉ số tài chính (đóng góp của cộng đồng, chi phí vận hành), và các chỉ số về thể chế (điều lệ và quy định vận hành).
Về tính hiệu quả, cần đánh giá các tác động của mô hình về kinh tế (lợi ích tài chính của cộng đồng), xã hội (tạo việc làm, nâng cao năng lực) và môi trường (tăng diện tích và chất lượng rừng). Về tính bền vững, cần chú ý rằng; mô hình tổ chức cùng những hiệu quả mang lại từ mô hình đã quan trọng, nhưng quan trọng hơn chính là “luật chơi” - hay cơ chế chia sẻ lợi ích đang áp dụng có làm hài lòng các bên liên quan không? Đặc biệt “luật chơi” đó có phù hợp với bối cảnh trong tương lai? 1. Bài học thực tiễn trong quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đã và đang được định hướng áp dụng bởi nhiều quốc gia trên thế giới với những đặc trưng khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu, so sánh, đánh giá thành công hay thất bại phải dựa trên các điều kiện đặc trưng cụ thể của từng địa phương.
Kết quả phân tích của Roberts và Gautam (2003) khi nghiên cứu về những kinh nghiệm của nhiều nước trên các châu lục khác nhau đã chỉ ra rằng, sự thành công của lâm nghiệp cộng đồng phụ thuộc vào việc có hay không: Rừng cộng đồng mang lại những giá trị cho cộng đồng; Hướng đến mục tiêu của cộng đồng; Mang lại lợi ích cho cộng đồng. Trong đó, cải cách hợp pháp, nhận thức, quan niệm của cộng đồng, công bằng, minh bạch và giải trình là những vấn đề cốt lõi cần được quan tâm. Ở Việt Nam, thực tiễn cũng cho thấy, do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình lâm nghiệp cộng đồng chung mà cần có loại hình lâm nghiệp cộng đồng khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Theo những tổng kết và đánh giá của Nguyễn Bá Ngãi (2009), mặc dù các loại hình rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 được 3 chủ thể chính quản lý là cộng đồng dân cư thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích.
Trong đó hình thức cộng đồng dân cư thôn và dòng tộc thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn hình thức nhóm hộ hoặc nhóm sở thích thường ở những vùng có sản xuất và thị trường phát triển, trình độ sản xuất của nông hộ cao và khả năng đầu tư lớn. Chính điều này đã tạo nên 2 xu hướng trong quản lý rừng cộng đồng, đó là đáp ứng nhu cầu sinh kế và sản xuất hàng hóa. Đứng về góc độ vĩ mô, quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam đã và đang gặp phải những trở ngại nhất định, làm hạn chế sự phát triển và tính hiệu quả trong thực tiễn. Cụ thể gồm: Thứ nhất là địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn bản chưa rõ ràng, chưa được thừa nhận theo những tiêu chí được đề cập trong bộ Luật dân sự năm 2005.
Thứ hai là những điểm thiếu trong cơ chế chính sách.