CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng các dự án, công trình xây dựng được triển khai, thi công bàn giao đưa vào vận hành, sử dụng ngày càng nhiều. Các công nghệ, thiết bị thi công tiên tiến được ứng dụng rộng rãi trên nhiều công trình, đem lại năng suất, hiệu quả lao động cao, tiến độ thi công được rút ngắn, chất lượng công trình tăng lên đáng kể, tạo điều kiện để ngành Xây dựng từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Công tác an toàn - vệ sinh lao động đã được chú trọng và tăng cường nhằm hạn chế thấp nhất xảy ra tai nạn.Tuy nhiên, tình trạng tai nạn lao động trong lĩnh vực Xây dựng xảy ra đang ở mức đáng báo động, đặc biệt là tỷ lệ tai nạn lao động chết người chiếm gần 40% tổng số người chết[1]. Tình trạng tai nạn lao động tăng cao trong lĩnh vực Xây dựng trong những năm vừa qua có thể do các nguyên nhân chính như sau: - Vi phạm các quy định về an toàn lao động; - Công tác tập huấn về an toàn lao động chưa đạt yêu cầu; - Vi phạm về việc trang bị và sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động; Vì vậy, trong chương này, tác giả sẽ tập trung đánh giá tổng quan về tình hình chấp hành các quy định và công tác tập huấn về an toàn lao động, và việc trang bị, sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động trong lĩnh vực Xây dựng ở Việt Nam trong những năm gần đây.1 Tình hình chấp hành các quy định về an toàn lao động Trong lĩnh vực Xây dựng, việc thực hiện các quy định về an toàn - vệ sinh lao động ở một số đơn vị chưa được nghiêm túc.
Không ít đơn vị tuy có tổ chức cho cán bộ, nhân viên và người lao động học tập và triển khai thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động nhưng còn mang tính hình thức, hiệu quả mang lại chưa cao. Tình trạng an toàn - vệ sinh lao động không đảm bảo trong 5 lao động, để xảy ra cháy nổ còn khá phổ biến, đặc biệt tai nạn lao động có chiều hướng gia tăng, mà nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động và người lao động chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn - vệ sinh lao động [1].1 Công tác an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng Các kết quả khảo sát của các cơ qua chức năng đã cho thấy hầu hết các đơn vị đều bố trí cán bộ làm công tác an toàn - vệ sinh lao động, trong đó có một số đơn vị sử dụng cán bộ chuyên trách, với đa số có chuyên môn, nghiệp vụ về an toàn - vệ sinh lao động(hầu hết có trình độ cao đẳng, đại học) [2], [3]. Nhưng việc thực hiện trách nhiệm về an toàn – vệ sinh lao động vẫn mang tính hình thức[3]. Đối với việc tổ chức mạng lưới an toàn- vệ sinh viên tại nơi lao động, là một yêu cầu bắt buộc theo quy định[4], số đơn vị thành lập mạng lưới an toàn- vệ sinh viên chiếm tỷ lệ rất thấp trong các đơn vị có chức năng thi công, cá biệt có một số đơn vị sử dụng trên 1.000 lao động vẫn không thành lập mạng lưới an toàn- vệ sinh viên[1].Mặc dù quy định yêu cầu các đơn vị sử dụng trên 1.000 lao động phải thành lập Hội đồng bảo hộ lao động[4], nhưng vẫn có một số đơn vị thuộc loại này không thành lập, trong khi một số đơn vị sử dụng ít lao động hơn lại thành lập Hội đồng bảo hộ lao động.
Về việc lập kế hoạch an toàn- vệ sinh lao động hàng năm, kết quả khảo sát của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết các đơn vị thực hiện rất hạn chế[5]. Đối với việc tự kiểm tra về an toàn- vệ sinh lao động, đa số đơn vị có tiến hành tự kiểm tra toàn diện nhưng tần suất kiểm tra chênh lệch nhau khá nhiều, có đơn vị kiểm tra 12 lần/năm nhưng cũng cóđơn vị chỉ kiểm tra 1 lần/năm, không đúng quy định yêu cầu tối thiểu phải tự kiểm tra toàn diện 6 tháng/lần[6].Một số công trường chưa lập sổ nhật ký an toàn (sổ nhật ký thi công cũng không ghi chép các 6 thông số về an toàn lao động); doanh nghiệp có tự kiểm tra an toàn lao động trên công trường nhưng hiệu quả chưa cao, nặng tính hình thức[3]. Về việc ban hành nội quy, quy chế về an toàn – vệ sinh lao động, phần lớn các đơn vị có ban hành nội quy, quy chế để điều hành công tác an toàn – vệ sinh lao động nhưng việc quản lý cụ thể thường xuyên thông qua các văn bản điều hành, chỉ đạo còn hạn chế, theo kết quả khảo sát của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh: chỉ có 4/41 đơn vị kê khai có ban hành những văn bản dạng này[5].2 Công tác an toàn lao động tại các công trường xây dựng Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra các công trường xây dựng những công trình có quy mô lớn, đang trong quá trình thi công, sử dụng nhiều lao động chịu rủi ro như thi công tầng hầm, trên các tầng cao, sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn (vận thăng, cần trục…)[5]. Các công trường đều có một số vấn đề về an toàn – vệ sinh lao động như trong tổ chức mặt bằng công trường, huấn luyện, trang bị phương tiện bảo hộ lao động cho công nhân, quản lý sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn…[5].
Về tổ chức mặt bằng công trường xây dựng, các công trường được kiểm tra đều có thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng nhưng không niêm yết công khai tại cổng chính của công trường theo quy định, cá biệt có một số công trình không xuất trình được thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng (3/13 công trình)[5]. Về công tác đảm bảo kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động, tai nạn chống ngã cao và sử dụng điện được đánh giá là chiếm tỷ lệ lớn nhất trên các công trường xây dựng. Cụ thể, tỷ lệ tai nạn lao động làm chết người do ngã cao chiếm 28,1 %, điện giật chiếm 19 %[1]. Đối với công tác phòng chống ngã cao,tình trạng vi phạm quy định về an toàn khi làm việc trên cao khá phổ biến.
Một số công trường không lắp đặt đủ bộ 7 phận rào chắn ngăn ngã cao tại các mép sàn, hố thang máy, lỗ thông tầng, nhiều vị trí chỉ chăng dây, thiếu bảng cảnh báo khu vực nguy hiểm (ví dụ Hình 1-1). Hình 1-1 Dàn giáo ở công trình dân dụng Hình 1-1 cho thấy rất rõ việc vi phạm quy định về an toàn lao động khi làm việc trên dàn giáo: khoảng cách từ sàn dàn giáo đến tường nhà lớn hơn 20 cm, không trang bị dây an toàn và phương tiện bảo vệ cá nhân, không có hàng rào bảo vệ phía ngoài. Ngoài ra, chủ công trình còn cho phép trẻ em chơi trên dàn giáo. Thực tế cho thấy, tình trạng này xảy ra rất phổ biến đối với các công trình riêng lẻ (xây nhà ở của các hộ gia đình).
8 Hình 1-2 Tai nạn do sập dàn giáo ở công trình Formusa Hình 1-2 thể hiện cảnh đổ nát của dàn giáo bị sập tại công trường dự án Formusa, Hà Tĩnh do kiểm tra kết cấu dàn giáo không đảm bảo nhưng không báo cáo [1]. Hình 1-3Công trường gần đường dây điện cao thế Đối với công tác an toàn khi sử dụng điện, kết quả kiểm tra tại các công trường xây dựng vẫn tồn tại các vấn đề thường trực như không có biện pháp bảo vệ khi thi công công trình gần đường điện cao thế (ví dụ như Hình 1-3); không nối đất 9 vỏ các tủ điện (4/13 công trìnhvi phạm), dây dẫn điện không treo mà rải dưới đất (kể cả trên mặt sàn đọng nước) - Hình 1-4, không sử dụng ổ cắm chuyên dụng hoặc sử dụng thiết bị điện cầm tay nhưng không thực hiện đo cách điện trước khi đưa vào sử dụng[5]. Hình 1-4 Rải dây dẫn điện dưới đất Ngoài công tác an toàn ngã cao và sử dụng điện, công tác phòng chống cháy nổ cũng rất cần thiết phải quan tâm vì tỷ lệ để xảy ra các đám cháy cũng không nhỏ [2]. Hầu hết các công trình đã kiểm tra đều không có hoặc có nhưng không đầy đủ phương án phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cho công trường.
Việc bố trí thiết bị chữa cháy cục bộ tại các khu vực đang thực hiện những công việc dễ xảy ra cháy (thi công hàn, cắt, lắp đặt các hệ thống lạnh…) vẫn chưa đầy đủ, nhiều công trình bố trí thiếu số lượng bình chữa cháy, tiêu lệnh chữa cháy tại những vị trí này[3],[5]. Về công tác tổ chức thực hiện an toàn – vệ sinh lao động trên công trường, nhiều công trường xây dựng không thành lập Ban an toàn hoặc có thành lập nhưng hoạt động kém hiệu quả [2]. Công tác giám sát an toàn – vệ sinh lao động trên các công trường không được chú trọng, sự kiểm tra của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo. Thực tế ởnhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư dự án thường thuê các nhà thầu đảm trách từng phần việc; các nhà thầu lại sử dụng cai thầu - thuê các nhóm thợ thi công.
Do đó, vấn đề bảo đảm an toàn lao động được phó mặc hết cho các cai thầu. Hơn nữa, do áp lực về tiến độ công trình, cộng với khó 10 khăn về tài chính, nên việc đầu tư thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn lao động chưa được các nhà thầu xây dựng quan tâm đúng mức[5]. Đối với công tác quản lý sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, việc bố trí sử dụng thiết bị thực tế còn nhiều vấn đề, như sử dụng vận thăng lồng nhưng cửa ra vào vận thăng tại một số công trình lắp đặt không đúng quy định (không kín, có thể mở từ phía trong công trình); hoặc có vận thăng không có bảo hiểm thiết bị, trong lồng không dán bảng chỉ dẫn vận hành, hoặc có trường hợp không có quyết định phân công nhân viên vận hành[5]. Nhiều công trường không lập phương án vận hành an toàn vận hành cần trục tháp mặc dù sử dụng cần trục tháp tay ngang có phạm vi hoạt động vượt ra khởi mặt bằng công trường.