Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại. 7 Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đại La. Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đại La. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ. Theo Khoản 2 Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010: "Tổ chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống" được bao hàm cả hai nội dung tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. Trên thế giới, có hai cách hiểu khác nhau về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
Quan điểm thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy tác), không tính đến quy mô giá trị khoản vay. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản vay có quy mô giá trị khác nhau. Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy mô lớn hay nhỏ mà chủ yếu được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác. Quan điểm thứ hai, tín dụng bán buôn được hiểu tương tự hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay công ty và doanh nghiệp lớn khác có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nước.
Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm các khoản cho vay đối với những công ty và doanh nghiệp lớn nhưng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy. Trong thực tế, những tiêu chí phân định giữa bán buôn và bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia và các ngân hàng, thay đổi tùy theo thời gian, điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý ở từng nơi. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ châu Á -AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng 9 lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Như vậy, tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, những khoản vay trực tiếp từng khách hàng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất -kinh doanh, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng đời sống.thông qua mạng lưới chi nhánh, được công nghệ thông tin hỗ trợ triển khai các sản phẩm, giao dịch trực tuyến, lưu giữ và xử lý dữ liệu tập trung.
Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng và bao gồm các đặc điểm sau: - Đối tượng cung cấp các sản phẩm tin dụng bán lẻ rất rộng và đa dạng, số lượng khách hàng vô cùng lớn cùng với sự gia tăng về quy mô dân số, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu cho loại sản phẩm này. Các khách hàng cá nhân khi tìm đến ngân hàng thường với mục đích vay là bổ sung vốn để kinh doanh hoặc tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho các mục đích này thường có nhu cầu vốn không cao vì phục vụ trực tiếp nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như: mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, mua sắm thiết bị,… Do đó, nếu xét về quy mô thì sự gia tăng về số lượng khách hàng với các đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Khi chất lượng của các khoản vay được cải thiện thì khách hàng sẽ tiếp cận với cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay.
- Do đối tượng khách hàng được phân nhỏ nên giá trị từng khoản vay cũng nhỏ lẻ phân tán, dẫn đến tăng chi phí quản lý của ngân hàng cho từng khoản vay. - Nhu cầu của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế, tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao. Ngược lại, khi nền 10 kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, rất nhiều cá nhân, hộ gia đình hạn chế chi tiêu, vay mượn, tiêu dùng, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. - Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu vay trung dài hạn mua nhà ở, đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, bên cạnh đó khách hàng vay thường không chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay thường có thời hạn vay trên 12 tháng.
- Chất lượng thông tin tài chính của các khoản vay thường không cao. Đối với các cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa báo cáo tài chính thường không được kiểm toán. - Quy trình cho vay khá đơn giản. - Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn.
- Tín dụng bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro do số lượng khách hàng lớn trong khi các khoản vay có giá trị nhỏ. Các sản phẩm tín dụng bán lẻ Sản phẩm tín dụng bán lẻ thường rất đa dạng và được thiết kế tương tự sản phẩm truyền thống với nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên các sản phẩm này đều thể hiện được những nét đặc thù riêng của mỗi ngân hàng. Có rất nhiều loại sản phẩm tín dụng bán lẻ khác nhau được các NHTM cung cấp, chủ yếu gồm hai loại: cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, nhà ở.
của các cá nhân và hộ gia đinh. Đối tượng khách hàng của cho vay tiêu dùng thường là những người không nhất thiết phải có thu nhập cao nhưng nhất thiết phải ổn định, chủ yếu là các công nhân viên chức hưởng lương và có thu nhập, việc làm ổn định. Trong sản phẩm cho vay tiêu dùng được chia thành hai loại: Cho vay tiêu dùng tín chấp và cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo. Cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo: là hình thức vay tiêu dùng 11 nhưng không cần tài sản đảm bảo để cầm cố, thế chấp.
Đối tượng khách hàng là những người có thu nhập ổn đinh, thời gian công tác ổn định thường là từ 1 năm trở lên. Căn cứ để xác định việc cho vay là dựa vào nguồn thu nhập và uy tín của khách hàng. Cho vay tiêu dùng tín chấp gồm các sản phẩm chủ yếu là cho vay thấu chi, cho vay cán bộ nhân viên,. Cho vay tiêu dùng có tài sản đảm đảm: là hình thức vay đúng với tên gọi của nó là khách hàng phải có tài sản đảm bảo để cầm cố, thế chấp.
Tài sản đảm bảo ở đây có thể là tài sản của chính khách hàng, của bên thứ ba hoặc là tài sản hình thành từ chính món vay đó.Những khoản vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo thường là những khoản vay trung và dài hạn. Các sản phẩm chủ yếu của cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo là: cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay mua sắm nội thất gia đình, cho vay cầm cố giấy tờ có giá. - Cho vay sản xuất kinh doanh: Cho vay sản xuất kinh doanh là sản phẩm tín dụng nhắm bổ sung nguồn vốn lưu động thiếu hụt tạm thời trong hoạt động kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ. Cho vay kinh doanh cũng được chia thành hai hình thức cho vay là không có tài sản đảm bảo và có tài sản đảm bảo.
Cho vay kinh doanh không có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay không cần tài sản đảm bảo áp dụng đối với các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ nhằm mục đích sản xuất kinh doanh. Cho vay kinh doanh có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay có tài sản đảm bảo áp dụng đối với các cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ nhằm mục đích phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm các sản phẩm chủ yếu như cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay mua ô tô để kình doanh, mua nhà để đầu tư. Ngoài các sản phẩm tín dụng bán lẻ chủ yếu trên thì sản phẩm tín dụng bán lẻ còn có: thẻ tín dụng, cho vay nông nghiệp, cho vay tiểu thương. Vai trò của tín dụng bán lẻ 12 1.
Đối với ngân hàng - Góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng: Do có đối tượng khách hàng rất rộng lớn nên việc phát triển tín dụng bán lẻ sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp. Thông qua tín dụng bán lẻ, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng còn giúp ngân hàng thuận lợi trong bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử.