CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại hiểu đơn giản là doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Sự ra đời của ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, hoạt động trong lĩnh vực tài chính, sự vận hành hệ thống ngân hàng thương mại được coi như là xương sống của nền kinh tế (Mishkin, 1995).
Ngân hàng cung cấp một số loại dịch vụ nhất định, tiêu biểu trong số đó là tín dụng ngân hàng. Đây là loại dịch vụ thực hiện giao dịch tài sản giữa bản thân ngân hàng với người vay. Hiện nay hoạt động chính của các NHTM nói chung là “đi vay để cho vay”, giải thích một cách đơn giản hơn thì tổ chức này làm nhiệm vụ dẫn vốn từ người này đến người khác trong nền kinh tế nói chung. Đây được gọi là đơn vị trung gian dẫn vốn của nền kinh tế.
Theo thống kê, NHTM nắm giữ đến 2/3 tài sản hiện có trong nội bộ hệ thống ngân hàng (Mishkin, 2009). Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và cộng đồng nói riêng. Các ngân hàng thường được định nghĩa thông qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế (Rose & Hudgins, 2008). Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ. Đặc điểm chính của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại được chia làm 3 đặc điểm chính sau đây: (i) Chứa đựng nhiều rủi ro, nhưng vẫn chịu sự kiểm soát của pháp luật 4 Ngân hàng thương mại được coi là trung gian tài chính giữa các bên vì vậy ngân hàng thương mại thường tham gia vào những cam kết mà chưa được chuyển vốn, tham gia bảo lãnh. Ngoài ra, nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là tiền huy động vốn của người dân thông gửi tiết kiệm.
Vì thế hình thức này có đặc điểm là có thể bị rút trước hạn, số lượng không dự báo trước được. Do đó kinh doanh ngân hàng chịu rất nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản… (ii) Ngân hàng thương mại có quy mô lớn Ngân hàng thương mại có quy mô lớn về tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Để thành lập một ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ tối thiểu 3000 tỷ đồng. Để thực hiện hiệu quả vai trò luân chuyển dòng tiền từ người sở hữu vốn đến người cân vốn, điều này yêu cầu mạng lưới chi nhánh ngân hàng rộng khắp trải dài trên khắp cả nước.
Về cấu trúc, tài sản của ngân hàng phần lớn là các tài sản tài chính. (iii) Tính liên kết và tính ổn định của hệ thống ngân hàng là rất lớn Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc rất cao, các ngân hàng liên kết với nhau thông qua các hoạt động trong đó ngân hàng đóng vai trò là trung gian hoặc khách hàng của ngân hàng kia. Vì vậy chỉ cần một ngân hàng gặp trục trặc dù chỉ là ngân hàng nhỏ thì có nguy cơ phá vỡ cả mắc xích này. Chức năng của ngân hàng thương mại (i) Chức năng làm trung gian tín dụng Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối trung gian giữa những người có nguồn tiền nhàn rỗi sẵn sàng gửi để sinh lời và những người cần tiền. Nói cách khác, ngân hàng vừa đóng vai trò đi vay khi huy động nguồn vốn nhàn rỗi ngoài thị trường và vừa đóng vai trò cho vay khi cung cấp nguồn vốn cần thiết từ đó ngân hàng được hưởng lợi từ chêch lệch lãi suất. Đây được coi là một quá trình thúc đẩy nền kinh tế, những người có lượng tiền nhàn rỗi sẽ cho ngân hàng vay qua hình thức gửi tiết kiệm, và ngân hàng cho những người cần tiền vay vốn để thực hiện những mục đích của mình, cả ba bên đều có lợi. Đây được coi là hoạt động mang lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng.
(ii) Chức năng làm trung gian thanh toán Ngân hàng đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân và thực hiện những thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Ngân hàng cũng cung cấp cho 5 khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Giúp khách hàng đẩy nhanh các hình thức thanh toán và chi trả vừa đảm bảo an toàn, tiết kiệm chi phí vận chuyển, vừa tiết kiệm thời gian. Chức năng này vô hình chung cũng tạo ra sự thúc đẩy lưu thông của hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển từ đó góp phần phát triển nền kinh tế.
Vai trò là trung gian cũng đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán, việc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng cũng tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi cũng như thanh khoản cho ngân hàng thể hiện trên số dư co trong tài khoản tiền gửi của khách hàng, là cơ sở của chức năng tạo tiền của ngân hàng. (iii) Chức năng tạo ra tiền Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đi vay. Sau đó, số tiền đó lại được đưa vào nền kinh tế thông qua hoạt động mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương thanh toán có trong nền kinh tế, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của khách hàng. Chức năng này thể hiện mỗi quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và sự lưu thông của tiền tệ. Ngân hàng cho vay càng nhiều, càng tăng khả năng tại tiền, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động truyền thống nhất của NHTM và thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tỷ trọng tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất.
Để ngân hàng tồn tại và phát triển thì hoạt động cho vay của ngân hàng phải an toàn và hiệu quả. Cho vay là một hình thức cơ bản của hoạt động tín dụng. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách hàng sử dụng số tiền vay đó. Khách hàng sau khi vay tiền phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định.
Mục đích sử dụng tiền và thời gian sử dụng đã được ngân hàng và khách hàng cùng thông nhất thông qua và được ký kết thành hợp đồng. Theo hợp đồng được ký kết, 6 ngân hàng phải cung cấp tiền cho khách hàng đủ và đúng thời gian quy định và theo đó khách hàng phải đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng thương mại. Cho vay KHCN đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay của NHTM được định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” (giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – Học viện Ngân hàng).
Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều khoản nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng”, Phạm Xuân Hòe (2015). Khách hàng vay vốn của NHTM bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân và hộ gia đình có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM bao gồm các hình thức cho vay mà ngân hàng cung cấp cho các cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh. Cụ thể, đối tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vay vốn mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô, các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, mua sắm trang thiết bị và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác.
Cho vay KHCN đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm khá mới ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên cho vay KHCN đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn đểphát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (khoảng 98 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ởcác thành phốlớn.
Chính vì thế, các sản phẩm cho vay KHCN 7 của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này. Tóm lại, với nghiên cứu này cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó ngân hàng thoả thuận để khách hàng là cá nhân, hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian.