Chương 1: Cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về nhãn hiệu và NHTT 1. Khái niệm và phân biệt các loại nhãn hiệu 1. Khái niệm về nhãn hiệu Nhãn hiệu có vai trò rất quan trọng với chức năng chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau trên thị trƣờng, đồng thời nó cung cấp thông tin cho ngƣời tiêu dùng nhận biết để lựa chọn sản phẩm, dịch vụ khi mua bán. Ngày nay, nhãn hiệu còn là biểu tƣợng, hình ảnh, danh tiếng của doanh nghiệp và là một trong những yếu tố quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng.
Ngoài ra, nó còn là một tài sản có giá trị đặc biệt (tài sản vô hình). Do đó, để ngƣời tiêu dùng có thể phân biệt đƣợc thì doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ phải sử dụng nhãn hiệu của riêng mình trên hàng hóa, dịch vụ. Khái niệm nhãn hiệu đƣợc quy định trong luật SHTT của các quốc gia và các điều ƣớc quốc tế liên quan. Khái niệm này đƣợc quy định khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và kỹ thuật xây dựng luật của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều dựa trên tinh thần chung của Điều ƣớc quốc tế cơ bản về nhãn hiệu. Ở Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu đƣợc xây dựng trên cơ sở các điều ƣớc quốc tế nhƣ: Công ƣớc Paris về bảo hộ quyền SHCN năm 1883, Hiệp ƣớc về các khía cạnh thƣơng mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) năm 1994, và trong các điều ƣớc quốc tế song phƣơng đƣợc ký kết giữa Việt Nam và các nƣớc nhƣ: Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000, Hiệp định về bảo hộ SHTT giữa Việt Nam - Thụy sỹ năm 1999…. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về nhãn hiệu của các tổ chức quốc tế và của nƣớc ta, một số khái niệm cụ thể sau đây: Theo Hiệp định TRIPS quy định về nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 15 nhƣ sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một chủ thể kinh doanh với hàng hoá hoặc dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng nhƣ tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng đƣợc đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá….
Định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) nhãn hiệu là: “Dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thƣơng mại hoặc một nhóm doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, 123doc 9 chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tƣợng, màu sắc hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu hàng hóa chỉ đƣợc chấp nhận bảo hộ nếu nó chƣa đƣợc cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác đƣợc đăng ký trƣớc đó cho cùng loại sản phẩm”.
Định nghĩa trên đã cơ bản xác định đƣợc các yếu tố và bản chất của nhãn hiệu, nó đã đƣợc kế thừa trong Hiệp định về các khía cạnh thƣơng mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) nêu trên. Nhƣ vậy, định nghĩa trên về nhãn hiệu là dựa trên chức năng của nhãn hiệu. Từ cách định nghĩa này có thể thấy vai trò quan trọng của nhãn hiệu chính là chức năng của nó. Theo Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”2.
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Khái niệm về nhãn hiệu theo Luật này rất ngắn gọn, đơn giản, đƣợc quy định trong phần Giải thích từ ngữ của Luật. Nhƣ vậy, hiểu theo một cách chung nhất, nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ do một tổ chức, cá nhân này với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác. Nhãn hiệu thƣờng là các dấu hiệu nhƣ một từ ngữ (hoặc một cụm từ), hình ảnh, biểu tƣợng, logo hoặc sự kết hợp các yếu tố này trên hàng hóa, dịch vụ để giúp ngƣời tiêu dùng có thể phân biệt đƣợc các sản phẩm, dịch vụ của nhiều tổ chức, cá nhân trên thị trƣờng.
Phân biệt các loại nhãn hiệu Phân biệt các loại nhãn hiệu có rất nhiều cách. Nếu dựa vào dấu hiệu đƣợc sử dụng làm nhãn hiệu thì có ba loại nhãn hiệu: nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình, nhãn hiệu kết hợp chữ và hình, nhãn hiệu hình khối (ba chiều). Theo các văn bản pháp luật hiện hành quy định thì có các loại nhãn hiệu nhƣ sau: nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng, NHTT. Nhãn hiệu chứng nhận “Là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lƣợng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa dịch vụ 2 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4.
123doc 10 mang nhãn hiệu”3. Chủ sở hữu đƣợc cấp chứng nhận (với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó) có thể trao quyền sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra. Ví dụ: Nhãn hiệu chứng nhận trái Thanh long Bình Thuận (Hình 1.1); Nhãn hiệu chứng nhận Rau Đà Lạt (Hình 1. 1: Nhãn hiệu chứng nhận trái Hình 1.
2: Nhãn hiệu chứng nhận Rau Thanh long Bình Thuận Đà Lạt 1. Nhãn hiệu kiên kết “Là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tƣơng tự nhau dùng cho sản phẩm và dịch vụ cùng loại hoặc tƣơng tự nhau hoặc có liên quan với nhau”4. Mục đích của việc đăng ký nhãn hiệu liên kết nhằm ngăn chặn bên thứ ba đăng ký những nhãn hiệu tƣơng tự, chính điều này đã mang lại nhiều lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Ví dụ: Nhãn hiệu liên kết: Long Thành, Long Thanh, Long Thạnh, Long Thánh, Long Thãnh do Cơ sở Long Thành, 67B Tháp Mƣời, 54 Nguyễn Xuân Phụng, phƣờng 2, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh đã đăng ký (Hình 1.
Số bằng: 4-0001697 Số bằng: 4-0010874 Số bằng: 4-0010875 Ngày cấp: 13/8/1990 Ngày cấp: 26/01/1994 Ngày cấp: 26/01/1994 Số bằng: 4-0014600 Số bằng: 4-0014601 Ngày cấp: 13/12/1994 Ngày cấp: 13/12/1994 Hình 1. 3: Nhãn hiệu liên kết của Cơ sở Long Thành 3 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4. 4 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4. Nhãn hiệu nổi tiếng “Là nhãn hiệu đƣợc ngƣời tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”5.
Theo khái niệm này thì phạm vi là đƣợc biết đến rộng rãi ở Việt Nam là có thể đƣợc công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng. Nhãn hiệu nổi tiếng đƣợc xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký (khác với các loại nhãn hiệu thông thƣờng, quyền SHCN đƣợc xác lập trên cơ sở quyết định cấp văng bằng bảo hộ). Ví dụ: Những nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu có thể kể đến: Google (Hình 1. 4: Nhãn hiệu Google Hình 1.
5: Nhãn hiệu Apple 1. Nhãn hiệu tập thể “Là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”7. NHTT là nhãn hiệu của một tổ chức (thƣờng là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty,… làm chủ sở hữu) đƣợc thành lập hợp pháp, tổ chức tập thể này có quyền đăng ký NHTT để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng NHTT; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phƣơng đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phƣơng của Việt Nam thì việc đăng ký phải đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép8. Tổ chức tập thể này xây dựng quy chế về việc sử dụng NHTT (nhƣ các tiêu chuẩn chất lƣợng, nguồn gốc, quy trình sản xuất…) và các thành viên đƣợc cấp quyền sử dụng nhãn hiệu nếu đáp ứng đƣợc quy chế đó.
Chủ sở hữu NHTT có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các yêu cầu nhất định của các thành viên đƣợc quy định trong quy chế. 5 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4.20 6 Theo Bảng xếp hạng giá trị thƣơng hiệu năm 2017 của Brand Finance Global 500 2017 <http://brandfinance.com/knowledge-centre/reports/brand-finance-global-500-2017/> 7 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 4. 8 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 87. 123doc 12 NHTT là một hình thức hiệu quả để cùng quảng bá sản phẩm của một nhóm doanh nghiệp hoặc cơ sở mà đối với từng nhãn hiệu riêng biệt khó có thể đƣợc ngƣời tiêu dùng biết đến hoặc đƣợc các đại lý lớn chấp nhận phân phối.
Ví dụ: NHTT sản phẩm “Mật ong U Minh Hạ” (Hình 1.6), sản phẩm “Tôm khô Rạch Gốc” (Hình 1. 6: NHTT mật ong U Minh Hạ Hình 1. 7: NHTT tôm khô Rạch Gốc 1. Đặc điểm của nhãn hiệu 1.
Tính phân biệt Nhãn hiệu phải đƣợc xây dựng rõ ràng và có đặc điểm riêng biệt. Việc đăng ký đối với một nhãn hiệu sẽ bị từ chối và không đƣợc bảo vệ nếu nhãn hiệu không có tính phân biệt hoặc trong một số trƣờng hợp tính phân biệt đó không đƣợc thể hiện một cách rõ ràng, thì quyền SHTT liên quan đến nhãn hiệu cũng sẽ không đƣợc bảo vệ. Theo đó, thông tin mà nhãn hiệu truyền đạt đến ngƣời tiêu dùng (dƣới dạng từ ngữ và/hoặc hình ảnh) phải giúp ngƣời tiêu dùng có thể nhận biết về nguồn gốc sản phẩm mang nhãn hiệu. Nhãn hiệu đăng ký phải không tiềm ẩn khả năng xung đột với quyền đã đƣợc xác lập đối với nhãn hiệu đã đƣợc bảo hộ của chủ thể khác (không trùng hoặc tƣơng tự gây nhầm lẫn).
Đây là vấn đề phức tạp, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nƣớc trên thế giới.