CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÈ PHÁT TRIÉN NGHIỆP v ụ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHỮNG VẤN ĐÈ CHƯNG VÈ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: - Xét theo khía cạnh học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “tín dụng chữ ký —Signature Credit”, là hoạt động không cần dùng đến vốn của các ngân hàng. - Tiếp cận một cách cụ thể hon, Thông tư số 28/2012/TT-NHNN (ngày 03/10/2012) giải thích, bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kêt băng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận. - Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương, nhăm chông đỡ những tổn thất của người thụ hưởng do sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.2 Các chủ thế tham gia hoạt động bảo lãnh Trong hoạt động bảo lãnh thường có ít nhất 3 thành phần: - Bên bảo lãnh- The guarantor (The Suarety) là bên phát hành bảo lãnh, mà thông thường là các ngân hàng. - Bên được bảo lãnh- The Principal (The Debtor) là các khách hàng yêu câu được bảo lãnh, đó là các tổ chức và cá nhân trong nước hoặc ngoài nước.
- Bên thụ hưởng bảo lãnh- The Beneficiary (The Creditor) là bên nhận cam kêt bảo lãnh, có quyên thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của Bên bảo lãnh. 5 Như vậy, một nghiệp vụ bảo lãnh không chỉ có mối quan hệ của Bên bảo lãnh với Bên thụ hưởng bảo lãnh, mà còn là mối quan hệ của Bên được bảo lãnh đối với Bên bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh. - Quan hệ giữa Bên được bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Tùy từng loại hợp đồng mà nghĩa vụ của Bên được bảo lãnh đối với Bên hưởng bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính (trả nợ, đóng thuế.) hay phi tài chính (cung ứng hàng hóa, dịch v ụ .) - Quan hệ giữa Bên bảo lãnh và Bên được bảo lãnh là quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng, được thể hiện qua hợp đồng bảo lãnh, ơ họp đồng bảo lãnh, ngân hàng cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với Bên thụ hưởng bảo lãnh, và đồng thời cũng quy định rõ ràng về nghĩa vụ và quyền các bên liên quan trong việc thực hiện bảo lãnh của ngân hàng.3 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng 1.1 Bảo lãnh là công cụ bảo đảm Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh, bàng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho Bên thụ hưởng.
Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho việc kí kết họp đông được thuận lợi. Trên thực tế, Bên thụ hưởng không hề mong muốn đối tác của mình sẽ vi phạm hợp đồng để nhận được bồi hoàn từ phía ngân hàng, mà Bên thụ hưởng chỉ coi bảo lãnh là một công cụ có tính đảm bảo an toàn phòng khi có biến cố xảy ra. Với chức năng này, bảo lãnh ngân hàng thực sự là chất xúc tác giúp cho các họp đồng thương mại, xây dựng, các giao dịch hàng hóa trong nước và quốc tế được ký kết một cách thuận lợi. Bên cạnh đó, do chịu trách nhiệm 6 cam kết nên ngân hàng phát hành bảo lãnh thường xuyên kiểm tra, giám sát, tạo ra áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm từ phía người được bảo lãnh.2 Bảo lãnh là công cụ tài trọ’ Mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng vói việc phát hành bảo lãnh ngân hàng đã giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được vay thực sự.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà vốn luôn là nhu câu câp thiết, thậm chí quyết định vấn đề sống còn của doanh nghiệp, và nhất là trong điều kiện tiếp cận với nguồn vốn từ các TCTD không hề dễ dàng, vấn đề này càng quan trọng hơn bao giờ hết. Với ý nghĩa này bảo lãnh được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về vốn của doanh nghiệp.3 Bảo lãnh là một công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng Đôi với ngân hàng, do chịu trách nhiệm cam kết sẽ bồi hoàn cho Bên thụ hưởng khi Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, nên ngân hàng phát hành sẽ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, tạo áp lực để Bên được bảo lãnh phải cố gắng thực hiện đúng như họp đồng, hạn chế tối đa những vi phạm có thể xảy ra. Đôi với Bên được bảo lãnh, một phân chịu áp lực từ việc giám sát của ngân hàng, một phần do nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ sẽ phải trả khoản phí phạt trả thay của ngân hàng, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp nên Bên được bảo lãnh cũng cố gắng hoàn thành tốt nhất nghĩa vụ đã cam kết.4 Bảo lãnh là công cụ đánh giá Trước khi phát hành bảo lãnh cho một khách hàng, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính, uy tín và xem xét các hoạt 7 động của khách hàng để đưa ra nhận định và quyết định có bảo lãnh hay không. Vì vậy nêu doanh nghiệp có đối tác mà ngân hàng không sẵn sàng bảo lãnh thì chứng tỏ đối tác đang có vấn đề về năng lực tài chính hay hiệu quả sản xuât kinh doanh.
Nhờ có chức năng này mà doanh nghiệp có thể đánh giá chính xác hơn vê đôi tác của mình trước khi ký kết hợp đồng, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp.4 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng 1.1 Đoi với doanh nghiệp - Đ ổ i v ớ i B ê n đ ư ợ c b ả o lã n h : Nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà người được bảo lãnh được bạn hàng tin tưởng, từ đó có thê ký kết các hợp đồng thuận lợi, cũng như có thể được hưởng các un đãi như nhận được nguồn tài trợ từ đối tác hoặc ngân hàng, mua bán trả chậm, kéo dài thời gian thanh toán hay thu hồi được vốn nhanh chóng. Hơn nữa, dưới áp lực giám sát của ngân hàng, các doanh nghiệp buộc phải tìm ra biện pháp sử dụng vốn sao cho có hiệu quả, thực hiện hợp đông một cách tôt nhât, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Đ ổ i v ớ i B ê n n h ậ n b ả o lã n h : Các doanh nghiệp có thê yên tâm khi ký kết hợp đồng với một đối tác được ngân hàng bảo lãnh. Trong trường hợp bên đối tác vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ đứng ra bù đăp mọi thiệt hại, do vậy có thế tránh tối đa những rủi ro có thể xảy ra.
Đồng thời với chức năng đánh giá của bảo lãnh, doanh nghiệp có thể đánh giá và lựa chọn được cho mình đối tác phù họp, đáng tin cậy? giúp công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp suôn sẻ thuận lợi. Như vậy có thê nói bảo lãnh là một sản phẩm dịch vụ vô cùng quan trọng? giúp các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh.2 Đối với ngân hàng Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, được sử dụng rộng rãi trong nhiều giao dịch và đang phát triển ngày càng đa dạng phong phú. Với doanh số ngày càng gia tăng mạnh mẽ, bảo lãnh đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng. Nhất là trong xu hướng gia tăng tỷ trọng thu nhập từ sản phẩm dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế nói chung và của ngân hàng nói riêng, phí từ dịch vụ bảo lãnh là nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ trọng không nhỏ trong thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng.
Ngoài ra việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cũng như các loại bảo lãnh giúp ngân hàng tiếp cận được với nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, tìm kiếm được nhiều khách hàng mới, tăng lợi nhuận về cho ngân hàng. Là một hình thức bảo lãnh dựa trên uy tín, ngân hàng không cần phải xuất quỹ, cũng như không tài trợ thực sự về vốn cho các doanh nghiệp, và thậm chí khi phát hành bảo lãnh, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phải ký quỹ một khoản nhất định. Khoản tiền này sẽ là nguồn vốn huy động chi phí thấp và lại ổn định. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng, khi mà hiện nay các ngân hàng cạnh tranh nhau vô cùng gay gắt và quyết liệt.
Hơn nữa khi thực hiện thành công bảo lãnh cho khách hàng, uy tín của ngân hàng cũng được nâng cao, tăng khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng.3 Đối với nền kinh tế Có thể thấy rằng đối với doanh nghiệp hay với ngân hàng, bảo lãnh đều có một vị trí rất quan trọng. Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Các giao dịch giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra thuận lợi suôn sẻ chính là nhân tô chủ chốt ảnh hưởng đến sự hiệu quả của quá trình luân chuyển vốn trong nên kinh tê. Bên cạnh đó, bảo lãnh đã tạo ra một môi trường kinh doanh 9 lành mạnh, khuyến khích các doanh nghiệp yên tâm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả, lợi nhuận tối đa cho nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở các giao dịch trong nước, bảo lãnh còn xuất hiện ở cả các giao dịch với đối tác nước ngoài, điều này đã góp phần thu hút một nguồn vốn lớn từ nước ngoài đổ vào.