Chương 1: Cơ sở lý luận về mạng lưới tuyến vận tải hành khách bằng xe buýt. Chương 2: Hiện trạng mạng lưới tuyến vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Giải pháp phát triển mạng lưới tuyến vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. 3 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG LƢỚI TUYẾN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT 1.1 Tổng quan về vận tải và các loại hình vận tải hành khách công cộng 1.
Tổng quan về vận tải 1. Vận tải là việc di chuyển hàng hóa và hành khách theo thời gian và không gian nhất định nhằm phục vụ mục đích nào đó của con người. Sản phẩm vận tải là vô hình được đo bằng T (Tấn), HK (hành khách), T. Phân loại vận tải Có nhiều cách phân loại vận tải, có thể phân loại theo các tiêu thức sau đây: a.
Căn cứ vào phương thức thực hiện quá trình vận tải - Vận tải đường thuỷ - Vận tải hàng không - Vận tải đường bộ - Vận tải đường sắt - Vận tải đường ống - Vận tải trong thành phố (Metro, Trolaybus, Buýt. Căn cứ vào đối tượng vận chuyển - Vận tải hành khách - Vận tải hàng hóa - Vận tải chuyên dụng c. Căn cứ vào cách tổ chức quá trình vận tải - Vận tải đơn phương thức: hàng hóa hay hành khách được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một phương thức vận tải duy nhất. - Vận tải đa phương thức: việc vận chuyển được thực hiện bằng ít nhất là 2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một chứng từ duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó.
4 - Vận tải đứt đoạn: là việc vận chuyển được thực hiện bằng 2 hay nhiều phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều chứng từ vận tải và 2 hay nhiều người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó. Căn cứ vào tính chất vận tải - Vận tải cá nhân: là việc vận chuyển trong nội bộ xí nghiệp, nhà máy, công ty. nhằm di chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, con người phục vụ cho quá trình sản xuất của công ty, xí nghiệp bằng phương tiện của công ty, xí nghiệp đó mà không trực tiếp thu tiền cước vận tải - Vận tải công cộng: là việc kinh doanh vận tải hàng hóa hay hành khách cho mọi đối tượng trong xã hội để thu tiền cước vận tải. Phân loại theo các tiêu thức khác như: phân loại vận tải theo - Cự ly vận chuyển - Theo khối lượng vận tải - Theo phạm vi vận tải.
Tổng quan về vận tải hành khách công cộng. Khái niệm về VTHKCC. Vận tải hành khách công cộng là một bộ phânh cấu thành trong hệ thống vận tải, là loại hình vận chuyển có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, phương hướng và tuyến ổn định trong một thời kỳ nhất định. Vai trò của VTHKCC.
Vận tải hành khách công cộng có ý nghĩa to lớn trong thành phố nói chung và trong giao thông vận tải đô thị nói riêng, do có các vai trò chủ yếu sau: - VTHKCC nói chung và VTHKCC bằng xe buýt nói riêng đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại của nhân dân. Nhu cầu đi lại ngày càng tăng tại các thành phố do dân số phát triển nhanh và đời sống được nâng cao, mặt khác đô thị ngày càng được mở rộng với tốc độ đô thị hóa cao cho nên khoảng cách đi lại ngày càng lớn. Trên các đường phố công suất luồng hành khách rất lớn, cho 5 nên nếu sử dụng phương tiện cá nhân thì sẽ không đáp ứng nổi, khi đó chỉ có thể dùng phương tiện VTHKCC bởi vì công suất vận chuyển lớn, có thể đạt 6000-8000 HK/giờ. - VTHKCC bằng xe buýt đóng vai trò chủ yếu trong VTHKCC ở các thành phố trung bình và nhỏ, được sử dụng thích hợp ở các khu vực mới xây dựng, trong thời kỳ xây dựng đợt đầu của thành phố khi số lượng hành khách còn ít.
Trong các thành phố cải tạo thì sử dụng xe buýt cũng rất thích hợp vì có thể thay đổi các tuyến dễ dàng khi có sự biến động về luồng hành khách. - VTHKCC bằng xe buýt là biện pháp hữu hiệu để giảm mật độ phương tiện giao thông trên đường. Trong đô thị việc mở rộng lòng đường là hạn chế, thực tế là khó có thể thực hiện ngay được, trong khi đó nhu cầu đi lại ngày càng tăng, mật độ phương tiện trên đường ngày càng lớn, điều này dẫn đến tốc độ lưu thông thấp. - VTHKCC bằng xe buýt là giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.
Trong giao thông vận tải, ngoài hệ thống cầu, đường còn có bến bãi, gara để cho phương tiện dừng đỗ (hệ thống giao thông tĩnh). Diện tích chiếm dụng giao thông tĩnh của phương tiện cá nhân cũng cao hơn phương tiện VTHKCC bằng xe buýt. - VTHKCC bằng xe buýt là giải pháp nhằm giảm tai nạn và giảm ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng rộng rãi phương tiện VTHKCC bằng xe buýt không những làm giảm mật độ giao thông trên đường, giảm tình trạng ùn tắc giao thông, mà còn làm giảm chủng loại phương tiện trên đường, nhất là giảm được các loại phương tiện thô sơ, do đó hạn chế được số vụ tai nạn giao thông.
Mặt khác khi số lượng phương tiện trên đường giảm thì sự ô nhiễm môi trường do khí thải phương tiện giao thông sẽ được hạn chế. - VTHKCC bằng xe buýt góp phần tiết kiệm chi phí chung cho toàn xã hội. Chi phí để mua sắm phương tiện cá nhân, tiết kiệm quỹ đất của thành phố, tiết kiệm chi phí xây dựng mở rộng, cải tạo mạng lưới đường sá trong 6 thành phố và tiết kiệm được số lượng xăng dầu tiêu thụ cho đi lại trong khi nguồn năng lượng này là có hạn [13]. Phân loại các phương thức VTHKCC.
Vận tải hành khách công cộng Sức chứa lớn, Sức chứa nhỏ trung bình Tàu Xe Đườn Monor Xe Bus Taxi PT điện điện g sắt ail điện ,xe thô BRT ngầm bánh đô thị bánh con sơ sắt hơi Bánh sắt Bánh hơi Hình 1. Phân loại phương thức VTHKCC. Đặc điểm các phương thức VTHKCC. Xe buýt là phương tiện vận tải hành khách phổ biến nhất hiện nay.
Xe buýt đầu tiên được đưa vào khai thác ở thủ đô Luân Đôn (Anh) vào năm 1990. 7 Tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hoặc đường ray, không cản trở và dễ hòa nhập vào hệ thống giao thông đường bộ trong thành phố. Khai thác, điều hành đơn giản, có thể nhanh chóng điều chỉnh lộ trình, chuyến lượt, thay xe, xe tăng cường trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến. Hoạt động có hiệu quả đối với các dòng hành khách có công suất nhỏ và trung bình.
Vận tải xe buýt dễ dàng phân chia nhu cầu đi lại ra các tuyến (đường phố) khác nhau trên cơ sở mạng lưới đường thực tế để điều tiết mật độ đi lại chung. Có chi phí đầu tư tương đối thấp so với các phương tiện VTHKCC hiện đại, cho phép tận dụng mạng lưới đường hiện có của thành phố. Chi phí vận hành thấp, nhanh chóng đem lại hiệu quả.Trong điều kiện chưa phát triển các loại hình khác thì VTHKCC bằng xe buýt là duy nhất. Năng lực vận chuyển chưa cao, năng suất vận chuyển thấp, tốc độ khai thác thấp (12-15 km/h) so với xe điện bánh sắt, xe điện ngầm,…Sử dụng nhiên liệu không kinh tế (Xăng, dầu, diêzel).
An toàn không cao so với các phương thức khác do hoạt động trên đường cùng với các phương tiện không đồng tốc, khó kiểm soát hoạt động của xe buýt trên đường. Xe điện bánh hơi. Các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật của loại phương tiện này không khác nhiều so với xe buýt. Tuy nhiên, yêu cầu về trang thiết bị phức tạp hơn xe buýt (trạm chỉnh lưu, dây điện, cột điện…).
Sức chứa của xe điện bánh hơi nhiều hơn xe buýt (từ 60- 90 khách) có thể tăng sức chứa bằng cách kéo thêm rơ- moóc. Phương tiện này đòi hỏi chất lượng đường cao hơn so với xe buýt. Mặt đường dùng cho xe điện bánh hơi phải là mặt đường cấp cao. Tính năng động của xe điện bánh hơi kém hơn so với xe buýt vì chủ yếu nó chạy trên đường cố định và chỉ có thể xê dịch trong khoảng 3m kể từ dây dẫn đến mặt ngoài thân xe.
8 Xe điện bánh hơi chủ yếu dùng ở hướng có dòng hành khách trung bình. Đối với các tuyến ngắn và các tuyến đi xa ra ngoại thành thì sử dụng loại này không được thuận tiện. Xe điện bánh hơi có thể là loại phương tiện chính trong thành phố lớn, còn trong các thành phố cực lớn nó là loại thứ yếu. Khi bố trí các tuyến xe điện bánh hơi cần chú ý hạn chế số chỗ giao nhau giữa chúng với nhau vì như thế sẽ giảm tốc độ giao thông của các loại phương tiện.
Độ dốc của xe điện bánh hơi không được quá 80. Tàu điện bánh sắt. Là loại phương tiện giao thông công cộng có giá thành trang bị cao nhất so với xe buýt và xe điện bánh hơi vì ngoài thiết bị điện còn phải có đường chạy riêng là đường ray. Tàu điện bánh sắt có ưu điểm là khả năng chuyên chở khá lớn (khoảng 15000 HK/giờ).
Do đó, người ta bố trí các tuyến tàu điện nằm ở các hướng có dòng hành khách lớn và ổn định. Đường tàu điện có thể bố trí cùng mức với lòng đường hoặc bố trí tại nền riêng tách khỏi lòng đường được ngăn cách bởi bó vỉa hoặc dải cây xanh rộng 1. Ngoài ra tàu điện bánh sắt còn có ưu điểm là giá thành rẻ hơn ô tô và không gây ô nhiễm môi trường do sử dụng năng lượng điện. Tuy nhiên nó có nhược điểm cơ bản là tính cơ động không cao vì phải hoạt động trên tuyến đường sắt cố định và khi bố trí chung với làn xe đường phố thì gây cản trở giao thông, tốc độ hạn chế, tiện nghi thấp.
Tàu điện ngầm. Tàu điện ngầm là phương tiện vận tải mà kết cấu hạ tầng (đường xá) phần lớn được đặt ngầm dưới đất.Tàu điện ngầm được xây dựng ở các thành phố có quy mô lớn (dân số trên 1 triệu người), có công suất luồng hành khác từ 12.000 người trong một giờ theo hướng vào giờ cao điểm, có hiệu quả đối với những tuyến có công suất luồng hành khách lớn và quy mô thành phố lớn.