CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI 1. Khái niệm Có nhiều quan niệm về khách hàng, ở mỗi khía cạnh nghiên cứu khác nhau, góc độ và phạm vi khác nhau thì lại có những quan niệm khác nhau về khách hàng. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: “Khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm một loại hàng hóa nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua” hay “Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình”.
Theo giáo trình Marketing căn bản của trường đại học Kinh tế quốc dân, “Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. Xét về khía cạnh ngân hàng có thể hiểu khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức, các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Đối với một ngân hàng thì khách hàng tham gia vào cả quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu.; đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn, sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển.
Sự thành công hay thất bại của khách hàng là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Sự đổi mới của ngân hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngược lại tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Phân loại khách hàng của Ngân hàng thương mại 1.1 Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng Khách hàng tiền gửi Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn là những người, nhóm người hoặc các tổ chức gửi tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: an toàn tài sản và sinh lời, tiết kiệm, hoặc để thực hiện giao dịch thanh toán… Các doanh nghiệp khi gửi tiền vào ngân hàng chủ yếu là để giao dịch thanh toán cho các nghiệp vụ kinh doanh của họ, bởi vậy, nguồn vốn này của ngân hàng không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp. Do vậy, rất có lợi cho ngân hàng khi dùng nguồn vốn này để cho vay.
Mặt khác, ngân hàng còn tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong khâu thanh toán do dịch vụ ngân hàng tạo nên. Khách hàng tín dụng Khách hàng vay vốn của ngân hàng là những người có sử dụng các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh của ngân hàng. Những khách hàng này phải sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả vốn và lãi đúng theo cam kết. Nhưng cũng có những khách hàng có thể không hoàn trả được món vay.
Việc này đòi hỏi ngân hàng cần có phương pháp lựa chọn khách hàng khi vay vốn dựa vào các chỉ tiêu tài chính như: khả năng thanh toán, chỉ tiêu hoạt động, khả năng tự tài trợ, khả năng sinh lời, chấp hành chế độ lập và gửi báo cáo tài chính; và dựa vào các chỉ tiêu phi tài chính như: uy tín trong quan hệ tín dụng, mức độ đảm bảo bằng tài sản, mức độ quan hệ với ngân hàng. Khách hàng khác Đó là những khách hàng sử dụng các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế, trao đổi ngoại tệ, dịch vụ tư vấn, môi giới đầu tư… Sự phát triển ngày càng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ phi tín dụng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng 6 ngày càng tăng làm tăng thêm thu nhập cho ngân hàng. Bên cạnh đó, nó còn tạo tiền đề cho sự phát triển của các nghiệp vụ khác, chẳng hạn như nếu ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán hoàn hảo thì sẽ thu hút được khách hàng, từ đó có thể tận dụng các nguồn tiền nhàn rỗi trên tài khoản thanh toán của họ làm tăng khả năng huy động vốn cho ngân hàng. Ý nghĩa: Với cách phân loại này, ngân hàng sẽ xác định rõ hơn điểm mạnh cũng như điểm yếu của ngân hàng trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình.
Từ đó, sẽ có biện pháp phát huy được lợi thế của ngân hàng trong các nghiệp vụ, đồng thời hạn chế và khắc phục những hoạt động còn yếu kém.2 Phân loại theo sự tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng Khách hàng trung thành Khách hàng trung thành của ngân hàng là những khách hàng khi có nhu cầu liên quan đến dịch vụ của ngân hàng thì họ lập tức nghĩ đến, tìm đến ngân hàng và họ luôn truyền những thông tin tốt về ngân hàng. Khách hàng trung thành được xem như là lực lượng quảng cáo truyền miệng rất tích cực cho ngân hàng. Sự thành công lớn hơn khi tiếp tục mở rộng toàn bộ cơ sở khách hàng và có nhiều khả năng việc kinh doanh mới sẽ đến thông qua lời giới thiệu, vì thế mà giảm bớt sự cần thiết phải chi phí nhiều cho việc khuyến mãi. Vì vậy, nhiệm vụ vủa ngân hàng là phải làm thế nào để tạo lập, nuôi dưỡng, phát triển mối quan hệ với khách hàng hiện tại để biến họ trở thành khách hàng trung thành của ngân hàng.
Khách hàng tiềm năng của ngân hàng Khách hàng tiềm năng của ngân hàng là những khách hàng có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng trong tương lai mà ngân hàng có thể thiết lập mối quan hệ với họ. Đồng thời, họ là những người có khả năng, có ý định và sẵn sàng giao dịch với ngân hàng nếu có nhu cầu. 7 Với nhóm khách hàng này, ngân hàng có thể có được những lợi ích sau: Làm tăng lợi nhuận của ngân hàng trong tương lai; mở rộng thị trường hoạt động của ngân hàng; có khả năng trở thành khách hàng trung thành của ngân hàng nếu các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thoả mãn tối đa nhu cầu của họ và các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng được bán nhiều hơn. Nhóm khách hàng này sẽ thiết lập quan hệ với ngân hàng nếu: Các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho khách hàng có giá trị cao nhất.
Họ luôn mong muốn có được giá trị tối đa trong phạm vi túi tiền cho phép cùng trình độ hiểu biết, khả năng động cơ và thu thập có hạn. Họ sẽ đề ra một kỳ vọng về giá trị rồi căn cứ vào đó mà hành động. Sau đó, họ tìm hiểu xem liệu sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng có phù hợp với kỳ vọng về giá trị đó không. Điều này sẽ ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn của họ và xác suất để họ mua tiếp lần sau.
Nói chung là họ sẽ lựa chọn ngân hàng nào mà đem lại giá trị cao nhất dành cho họ. Ý nghĩa: Cách phân loại này sẽ giúp ngân hàng thấy được uy tín, vị thế của ngân hàng mình trên thị trường tài chính. Đồng thời xác định được chi phí thích hợp bỏ ra cho mỗi loại khách hàng, thông thường chi phí đối với một khách hàng trung thành rẻ hơn so với chi phí cho một khách hàng mới. Phân loại theo hình thức tổ chức của khách hàng Khách hàng cá nhân Khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại…có quan hệ giao dịch với ngân hàng.
Nguồn khách này thường nhiều và phân tán về mặt địa lý, họ thường giao dịch với số lượng ít, quy mô nhỏ lẻ và không có mối quan hệ giao dịch thường xuyên với ngân hàng. Họ mua dịch vụ của ngân hàng là để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của chính họ. Vì vậy, việc mua này chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng: tâm lý, văn hoá, xã hội và các nhân tố thuộc về bản thân họ. Nguồn khách này thường không có trình độ nhiều và ít hiểu biết hơn so với các khách hàng là tổ chức (khách hàng lớn).
8 Khách hàng doanh nghiệp: Trái với khách hàng cá nhân, ở nhóm khách hàng này tuy có số lượng người mua ít hơn nhưng họ thường mua với quy mô lớn, số lượng mua nhiều. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa khách hàng tổ chức và ngân hàng thường gần gũi hơn, có mối quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau. Họ là những khách hàng có trình độ, việc mua của họ chủ yếu là để thực hiện kinh doanh hoặc thực hiện một chức năng nào đó, vì vậy họ quan tâm nhiều đến vấn đề lợi nhuận, giảm chi phí, đàm phán kỹ về giá cả và hay đòi hỏi giảm giá trong những trường hợp nhất định hoặc khả năng thoã mãn những nhu cầu cho công việc chẳng hạn như yêu cầu về kế hoạch cung cấp, số lượng, chất lượng, địa điểm… Do vậy, ngân hàng nên căn cứ vào những mong đợi này để thoã mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Ý nghĩa: Với cách phân loại này, ngân hàng có thể dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu, nắm bắt được tâm lý, nhu cầu của từng đối tượng khách hàng.
Từ đó, ngân hàng tiến hành cung cấp và đa dạng hóa danh mục sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu của từng nhóm khách hàng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng một cách phù hợp. Tầm quan trọng của khách hàng đối với hoạt động của NHTM Khách hàng đem lại lợi nhuận cho các hoạt động của ngân hàng Khách hàng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, đem lại cho ngân hàng chỗ đứng trên thị trường và tạo nên danh tiếng cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Khách hàng trả lương cho ngân hàng, cũng nhờ có khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng mới có tiền để trang trải các chi phí và có lãi, từ đó tiếp tục hoạt động kinh doanh. Nếu không có khách hàng, không có ai sử dụng sản phẩm dịch vụ của mình thì ngân hàng sẽ không thể hoạt động.
Nhu cầu của khách hàng nói chung và KHDN nói riêng chính là tiền đề cho 9 việc kinh doanh của các NHTM. Bản chất kinh doanh của NHTM là thu được lợi nhuận thông qua quá trình huy động vốn và các hoạt động giao dịch liên quan đến tiền tệ trên thị trường, quá trình này chỉ xảy ra khi có khách hàng. Khách hàng chính là nguổn sống của khách hàng, nếu không có khách hàng, sẽ không có bất cứ hoạt động kinh doanh của ngân hàng nào được diễn ra nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.