CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu chí vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Vì vậy DNVVN là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế, có mối quan hệ tưởng hỗ không thể tách rời với các chủ thể khác. Theo nghị định số 90/2001/NĐ của Chính phủ, DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể là: 7 Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa của các ngành nghề kinh doanh theo Nghị định số 56/2009/ NĐ-CP Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao động Số lao Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn động vốn vốn Nông, lâm 10 người trở Từ trên 10 20 tỷ đồng Từ trên 200 Từ trên 20 nghiệp, và xuống người đến trở xuống người đến tỷ đồng đến thủy sản 200 người 300 người 100 tỷ đồng Công 10 người trở Từ trên 10 20 tỷ đồng Từ trên 200 Từ trên 20 nghiệp và xuống người đến trở xuống người đến tỷ đồng đến xây dựng 200 người 300 người 100 tỷ đồng Thương 10 người trở Từ trên 10 10 tỷ đồng Từ trên 50 Từ trên 10 mại và dịch xuống người đến trở xuống người đến tỷ đồng đến vụ 50 người 100 người 50 tỷ đồng 1. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình doanh nghiệp nên có những đặc điểm chung nhất của một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nó còn mang những đặc điểm riêng biệt vốn có của nó, thể hiện ưu thế của mình trên thị trường, cụ thể là: Thứ nhất, điểm nổi bật nhất của các DNVVN chính là quy mô vốn ban đầu thấp vì khi thành lập loại hình doanh nghiệp này thì vốn ban đầu thường là do các thành viên đóng góp, do vậy vốn có quy mô không lớn.
Ngoài ra, DNVVN có tính linh hoạt, tồn tại và phát triển ở mọi loại hình kinh tế. Chính vì vậy, các DNVVN có khả năng phản ứng nhanh trước những biến động của thị trường, có thể chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. 8 Thứ hai, các DNVVN tạo môi trường cạnh tranh tự do, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mục tiêu của DNVVN là hướng đến kinh doanh rộng rãi trong các lĩnh vực cung cấp các mặt hàng thiết yếu và không được sự bảo hộ từ phía nhà nước.
Vì vậy đã tạo nên một sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp với nhau. Ngoài ra, các DNVVN luôn tự chủ trong kinh doanh mà không ngại rủi ro, không ngừng học hỏi và tận dụng các cơ hội để khẳng định thương hiệu và phát triển. Thứ ba, về hình thái và cơ cấu tổ chức, các DNVVN thường có cơ cấu đơn giản, bộ máy tổ chức, quản lý gọn nhẹ nhưng mang tính hiệu quả cao. Cùng với quy mô không lớn, chi phí cố định thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ giúp cho việc thành lập các DNVVN cũng không gặp quá nhiều khó khăn.
Thế nên nguồn huy động vốn của loại hình này khá là đa dạng. Nguồn huy động vốn có thể từ người thân hay bạn bè nên chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng điều chỉnh để vượt qua khó khăn. Thứ tư, DNVVN có thể khai thác và tận dụng tối đa các tài nguyên và nguồn lực có sẵn từ các địa phương và với khả năng chuyên môn hóa cao để hướng đến tiết kiệm chi phí sản xuất các mặt hàng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, góp phần ổn định đời sống xã hội. Thứ năm, DNVVN hướng tới phát triển bền vững và công bằng giữa các vùng trong cùng một quốc gia, góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường.
Do đó, các sản phẩm của DNVVN thường tập trung vào một số dạng chủ yếu, cụ thể là: - Nguyên liệu đầu vào cho các công ty lớn như: các bộ phận phụ của chi tiết lớn, chủ yếu là các lĩnh vực trong ngành cơ khí, tự động hóa, công nghiệp ô tô, máy bay. - Các đồ thủ công, mỹ nghệ với những nét độc đáo, tinh xảo không chỉ mang lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn chứa đựng những nét truyền thống, phong tục tập quán của từng vùng miền đất nước. Chính vì vậy giá cả của mặt hàng này thương khá cao và nhắm đến những khách hàng thượng lưu và thường xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. - Các sản phẩm tiêu dùng thông thường nhằm phục vụ cho đối tượng khách hàng bình dân.
Vì vậy chất lượng và giá cả của các sản phẩm này phải chăng để đáp ứng nhu cầu cho những khách hàng dễ tính. 9 Vì mang bản chất là loại hình doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn thấp nên các DNVVN không tránh khỏi những hạn chế. Những khó khăn thường gặp đối với DNVVN là năng lực tài chính, quản trị, việc mở rộng thị trường kinh doanh, đầu tư sản xuất công nghệ mới, và đặc biệt nguồn vốn hỗ trợ luôn là sự bận tâm hàng đầu. Bên cạnh đó, DNVVN gặp không ít khó khăn trong việc thiết lập, mở rộng mối quan hệ với các doanh nghiệp khác, vì vậy cũng khó khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
Ngoài ra, các DNVVN còn gặp hạn chế trong việc đào tạo nguồn nhân lực và trình độ công nghệ kỹ thuật còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong thiết kế sản xuất nên khó mang lại chất lượng cao và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ Không riêng đối với Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới, hay thậm chí những quốc gia phát triển, thì các DNVVN được đánh giá là yếu tố cần thiết và ngày càng khẳng định những đóng góp quan trọng của mình cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy, vai trò của DNVVN được thể hiện qua các khía cạnh sau: 1. Tăng trưởng và ổn định kinh tế DNVVN góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng thu nhập ở các quốc gia, khoảng 20%-50% thu nhập quốc dân.
Ngoài ra, DNVVN không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bớt gánh nặng từ những tiêu cực của nền kinh tế mà còn có vai trò to lớn trong việc tạo mối quan hệ gắn kết với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Tạo nên một nền kinh tế đa dạng DNVVN là nơi khởi đầu sự nghiệp, là môi trường thuận lợi cho việc đào tạo và phát triển kỹ năng kinh doanh của các nhà kinh tế khởi nghiệp. Vì DNVVN có quy mô nhỏ, bộ máy linh hoạt gọn nhẹ nên dễ điều chỉnh hoạt động, thích nghi với môi trường làm việc một cách nhanh chóng và hiệu quả. Vì lý do này mà các nhà doanh nghiệp khi làm quen với môi trường kinh doanh đều bắt đầu với DNVVN.
Họ sẽ có nhiều cơ hội để tiếp cận với nền kinh tế hơn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân để sẵn sàng vươn tới đỉnh cao, phấn đấu để phát triển 10 doanh nghiệp ngày một lớn hơn. Chính sự phát triển về chất lượng và cả số lượng doanh nghiệp kéo theo sự phát triển cho nền kinh tế. Tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người dân Đối với mỗi nền kinh tế, DNVVN là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần đẩy lùi tình trạng đói nghèo, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp. Chính nhờ các DNVVN đã tạo điều kiện cho ngành thương mại dịch vụ và công nghiệp không ngừng phát triển, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn.
Sự phát triển của DNVVN là một trong những giải pháp giúp giải quyết vấn đề về việc làm, nhất là đối với quốc gia đang phát triển, nơi mà lượng lao động ngày càng tăng vượt trội qua mỗi năm. Hơn thế nữa, DNVVN còn được xem là động lực lớn không chỉ thúc đẩy nâng cao ý thức người lao động về tầm quan trọng của việc làm mà còn góp phần cải thiện thị trường lao động. Điều này đã giúp cải thiện và nâng cao mức sống cho những người có thu nhập thấp và lao động phổ thông. Cung cấp nguyên vật liệu Bất kỳ doanh nghiệp lớn nào cũng cần có một mạng lưới các nhà cung cấp và phân phối sản phẩm ổn định để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Chính vì thế mà các DNVVN được xem là một trong những cộng sự đắc lực của các doanh nghiệp lớn trong việc đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên vật liệu đầu vào của dây chuyền sản xuất. Với sự hỗ trợ này đã giúp các doanh nghiệp lớn phần nào hạn chế được các rủi ro về mặt cung và cầu trên thị trường, đồng thời góp phần giảm thiểu tối đa các chi phí vận chuyển và nâng cao sức cạnh tranh của thị trường. Điều đáng chú ý là một nền kinh tế nếu chỉ toàn những DNVVN thì khó có thể tập trung vốn cho mở rộng và đổi mới công nghệ. Ngược lại các doanh nghiệp lớn không thể phát huy hết tài năng của mình nếu không có sự hỗ trợ của các DNVVN.
Vì lẽ đó, để tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng thì cần phải đặt vai trò của doanh nghiệp lớn và DNVVN ngang tầm nhau, bảo vệ lợi ích cho người 11 tiêu dùng. Trong những năm gần đây, vấn đề thúc đẩy phát triển cho các DNVVN đang được các quốc gia quan tâm và nỗ lực đổi mới.