CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH THEO CHIỀU SÂU 1. Những vấn đề cơ bản về tài chính 1. Khái niệm Khi đề cập đến phạm trù tài chính hiện có nhiều quan điểm khác nhau tranh luận về phạm trù này: Định nghĩa 1: Dựa vào quan điểm P.Drake (1980) theo nghĩa hẹp tài chính đơn thuần phản ánh hoạt động thu chi của chính phủ. Theo nghĩa rộng hơn tài chính phản ánh các khoản vay và cho vay có ảnh hưởng đến mức cung tiền.
Định nghĩa 2: Theo từ điển kinh tế học hiện đại (từ wikipedia, the free encyclopedia) tài chính là phạm trù kinh tế phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Qua hai định nghĩa trên có thể thấy tài chính có đặc điểm sau: Một là, tài chính được đặc trưng không chỉ gồm các nguồn lực dưới dạng tiền mặt hay các khoản tiền gửi mà còn dưới dạng các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hay các công cụ nợ miễn là các loại tài sản này được chấp nhận trên thị trường như là các công cụ trao đổi hay chuyển tải giá trị. Hai là, tài chính liên quan đến việc chuyển giao các nguồn tài chính giữa các chủ thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm sang các chủ thể cần vốn. Ở mức độ vĩ mô tài chính liên quan đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư biểu thị sự chuyển giao nguồn lực tài chính giữa cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ trong tổng thể nền kinh tế.
Bản chất của tài chính Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau, nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ. Hay nói cách khác bản chất của tài chính là các quan hệ tài chính 123doc 5 trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua việc tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Như vậy, bản chất của tài chính là phản ảnh ràng buộc về quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình phân phối nguồn tài chính. Chức năng tài chính 1.
Chức năng huy động Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn. Chức năng phân phối Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội. Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị.
Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng theo những mục đích nhất định. Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu cơ sở, đó là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (là phân phối cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất mà chỉ nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội). Chức năng giám sát Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Giám sát tài chính là một thuộc tính vốn có của phạm trù tài chính bắt nguồn từ bản chất của tài chính và có quan hệ biện chứng với chức năng huy động và phân phối nguồn tài chính.
Giám sát tài chính phản ảnh hoạt động thu thập và đánh giá những 123doc 6 bằng chứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động và phân bổ các nguồn tài chính với mục đích đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả và hiệu lực của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước. Những vấn đề cơ bản về Hệ thống tài chính 1. Khái niệm Các nhà nghiên cứu kinh tế thường tranh luận về hệ thống tài chính và tài chính trong một tổng thể chung.
Nhưng để có thể nhìn thấy được nhiều đặc điểm quan trọng của hệ thống tài chính phải tách hai vấn đề này ra và xem xét thành phần hay các bộ phận của hệ thống tài chính sẽ dễ dàng hiểu rõ hơn về hệ thống tài chính. Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế. Tuy nhiên, đó không phải là một hoạt động hỗn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ những nguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng.
Giữa các bộ phận này luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ thống tài chính. Do vậy, hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận, thành tố khác nhau trong một cơ cấu tài chính thống nhất, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định. Các thành tố cơ bản của hệ thống tài chính là các định chế tài chính, thị trường tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính. Giữa các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất không thể tách rời.
123doc 7 Như vậy, hệ thống tài chính có thể hiểu là hệ thống thị trường nơi giao dịch các công cụ tài chính và là nơi các chủ thể trong nền kinh tế, các định chế tài chính giao dịch với nhau thông qua sự điều tiết và quản lý của hệ thống. Phân loại Căn cứ vào mức độ chi phối bởi Nhà nước, hệ thống tài chính được chia thành hai mô hình: Hệ thống tài chính được kiểm soát (mô hình áp chế tài chính) và hệ thống tài chính tự do (mô hình tự do hóa tài chính). Áp chế tài chính Áp chế tài chính (financial repression) là sự bóp méo trong các hệ thống tài chính bởi các biện pháp thuế và phi thuế mà chính phủ áp dụng nhằm cô lập khu vực tài chính hay các thị trường vốn khỏi các lực lượng thị trường. Nó có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, về lãi suất: Các quốc gia lựa chọn áp chế tài chính thường áp dụng chính sách lãi suất cố định hoặc lãi suất trần.
Thứ hai, về chính sách tỷ giá: Chính sách tỷ giá khi các quốc gia theo đuổi áp chế tài chính thường là chính sách tỷ giá cố định hoặc chính sách tỷ giá không linh hoạt. Thứ ba, về mức dự trữ bắt buộc: Mức dự trữ bắt buộc mà các quốc gia theo đuổi áp chế tài chính thường ở mức cao. Sự lựa chọn này xuất phát từ quan điểm cho rằng mức dự trữ cao sẽ hạn chế được rủi ro dẫn đến sự đổ vỡ của hệ thống tài chính. Thứ tư, về mức độ can thiệp của Chính phủ: Sự can thiệp của Chính phủ vào quá trình phân bổ tài chính là rất sâu.
Các ngân hàng thương mại phải tham gia các dự án của Chính phủ mà biết chắc rằng các dự án này là không hiệu quả nhưng vì mục tiêu xã hội mà vẫn phải thực hiện. Tự do hoá tài chính Tự do hóa tài chính là sự bãi bỏ những sự kiểm soát tác động đến sự ảnh hưởng lẫn nhau của các lực lượng thị trường trong khu vực tài chính hay thị trường vốn, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng chảy vốn từ các tổ chức tài chính xuyên quốc gia. Tự do hoá tài chính thể hiện ở 4 đặc điểm chính như sau: 123doc 8 Một là, tự do hoá lãi suất, theo đó những hạn chế (như những quy định về trần và sàn lãi suất) đối với lãi suất tiền gửi cũng như lãi suất cho vay của các ngân hàng được xoá bỏ và các loại lãi suất này được xác định một cách tự do trên thị trường. Hai là, tự do hoá tỷ giá, nghĩa là không quy định tỷ giá chính thức đối với các giao dịch của tài khoản vãng lai cũng như giao dịch của tài khoản vốn.
Ba là, trong trường hợp tự do hoá tài chính toàn bộ thì dự trữ bắt buộc thường được quy định thấp hơn 10%, còn nếu tự do hoá một phần thì dự trữ bắt buộc thường từ 10- 50 %. Bốn là, tự do hoá hoạt động phân bổ tín dụng, theo đó tín dụng được phân bổ theo lãi suất thị trường chứ không phải bởi các quyết định hành chính của chính phủ. Về lý thuyết hiện đại, căn cứ vào trình độ phát triển của các thành tố trong hệ thống tài chính thì có 2 mô hình: hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (Bank based), nơi ngân hàng và các định chế tài chính phát triển mạnh mẽ và hệ thống tài chính dựa vào thị trường (Market based), nơi thị trường giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính dựa vào thị trường: Thị trường tài chính đóng vai trò chủ yếu trong tài trợ vốn, chi phối mô hình quản trị công ty, tính minh bạch cao, thị trường đòi hỏi phát triển công ty cổ phần là phổ biến.