CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DVPTD TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về DVPTD của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm DVPTD của Ngân hàng thương mại Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DVPTD của Ngân hàng thương mại.Fitch, 2006 định nghĩa về DVPTD: ”DVPTD (non credit banking services) là các dịch vụ thu phí của ngân hàng không liên quan đến việc cấp tín dụng cho các ngân hàng đại lý hoặc các khách hàng của ngân hàng. Thu nhập từ DVPTD có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính”.
Theo quan điểm riêng của Phạm Minh Điển, 2010: “DVPTD của NHTM là một bộ phận cấu thành của dịch vụ ngân hàng, đó là những dịch vụ liên quan đến mua bán các công cụ tài chính giữa ngân hàng với các khách hàng, trong đó ngân hàng không sử dụng đến tài sản nợ mà dựa trên khả năng công nghệ, phương tiện, nguồn nhân lực của ngân hàng để cung cấp cho khách hàng nhằm tạo ra các khoản phí thu được từ khách hàng. Các dịch vụ này không bao gồm dịch vụ cho vay vốn và huy động vốn”. Một định nghĩa khác về DVPTD của tổ chức Deloitte Touch Tohmatsu đưa ra: “DVPTD là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng. DVPTD là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng”.
Như vậy, DVPTD là toàn bộ dịch vụ ngân hàng không kể dịch vụ tín dụng, mang đầy đủ đặc điểm của dịch vụ ngân hàng. Điểm khác biệt cơ bản so với DVPTD là ngân hàng không thu lãi mà thu các khoản phí do mình cung cấp. Có thể khái quát lên như sau: DVPTD của NHTM là các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng để thu phí, hoa hồng, chênh lệch giá hoặc nhằm nâng cao uy tín của ngân hàng, không bao gồm hoạt động cho vay và huy động vốn. Cơ sở hình thành DVPTD của Ngân hàng thương mại Theo tác giả Phan Thị Linh, 2015, có ba cơ sở chính hình thành nên DVPTD của NHTM.
Thứ nhất, sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển của dịch vụ phi tín dụng là sự đòi hỏi nhu cầu của nền kinh tế về các dịch vụ tài chính gắn liền với quá trình tạo ra thu nhập và quá trình sử dụng thu nhập. Quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (gọi chung là khách hàng). Khách hàng là thành phần có vị trí hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của DVPTD. Vì vậy, nhu cầu, mong muốn và cách thức sử dụng dịch vụ của nền kinh tế nói chung và của khách hàng nói riêng là yếu tố quyết định về sự ra đời cả về số lượng, kết cấu, chất lượng dịch vụ và kết quả phát triển DVPTD của NHTM.
Thứ hai, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao Hiện nay, hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất giữa lãi suất sử dụng vốn và lãi suất huy động vốn dần bị thu hẹp đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lợi nhuận của NHTM. Vì vậy, các NHTM muốn tồn tại và phát triển thì không còn con đường nào tốt hơn là lựa chọn phát triển DVPTD. Từ đó, các ngân hàng có thể tăng hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu rủi ro tín dụng trên cơ sở đa dạng các loại hình dịch vụ ngân hàng.
Việc tiếp cận phát triển DVPTD trong điều kiện ngày nay của các NHTM còn có thể là biện pháp hữu hiệu để thực hiện tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của NHTM, giảm rủi ro trong kinh doanh và giảm tình trạng nợ xấu. Thứ ba, sự phát triển khoa học công nghệ của ngân hàng Với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công đặc biệt là trong việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngân hàng đã thúc đẩy các hoạt động của dịch vụ ngân hàng phát triển một cách nhanh chóng, nổi bật nhất là việc ứng dụng công nghệ vào hệ thống máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi 24/24h, máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các trung tâm bán hàng, cửa hàng bách hóa…cùng với đó là hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Đặc điểm DVPTD của Ngân hàng thương mại Là một loại hình dịch vụ của ngân hàng DVPTD mang những đặc điểm chung của dịch vụ ngân hàng bao gồm: Tính vô hình: tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ; Tính không thể tách biệt: quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời; Tính không ổn định: khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ; Tính không lưu giữ được: dịch vụ không thể lưu trữ để bán hoặc sử dụng về sau.
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên DVPTD còn có những đặc trưng riêng như: Thứ nhất, ngoài việc đầu tư nguồn vốn ban đầu để trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực, khi thực hiện giao dịch về dịch vụ phi tín dụng, các NHTM không phải sử dụng đến nguồn vốn hoặc có phải sử dụng thì cũng sử dụng không nhiều nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ ngay khi giao kết hợp đồng. Đây là một trong những lợi thế mà ngân hàng nên khai thác để phát triển các loại hình dịch vụ phi tín dụng. Thứ hai, các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho NHTM bởi chi phí giao dịch mà ngân hàng bỏ ra thường rất thấp, mà chủ yếu tận dụng vào cơ sở hạ tầng công nghệ đã được đầu tư trước đó. Như vậy, DVPTD được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thu hút các NHTM hiện đại trên thế giới.
Thứ ba, DVPTD của NHTM được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối an toàn, rủi ro thấp. Vì thế, mở rộng DVPTD sẽ giúp cho NHTM hạn chế được những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Thứ tư, các DVPTD của ngân hàng có tính hỗ trợ cao và liên kết chặt chẽ với nhau. Các dịch vụ luôn đòi hỏi đi kèm với nhau, sự tồn tại và phát triển của dịch vụ này gắn liền với các dịch vụ khác.
Do đó, DVPTD của ngân hàng đòi hỏi sự phát triển đồng bộ. Thứ năm, DVPTD vô cùng đa dạng, phong phú và không ngừng phát triển. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình DVPTD. Đối với mỗi loại hình dịch vụ, các ngân hàng đều đa dạng các loại hình cung cấp.
Thứ sáu, có nhiều loại DVPTD ra đời và phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Khách hàng không cần đến ngân hàng mà có thể ngồi tại nhà để 10 thực hiện các giao dịch thông qua các kênh giao dịch hiện đại như: E- Banking, Home Banking… 1. Các DVPTD chủ yếu của Ngân hàng thương mại Dựa vào thời gian xuất hiện của các DVPTD chúng ta có thể phân loại DVPTD thành hai loại là DVPTD truyền thống và DVPTD hiện đại. DVPTD truyền thống: a.
Dịch vụ thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Dịch vụ thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM, nó tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển, đồng thời nó là cơ sở để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Nhìn vào hệ thống thanh toán của một ngân hàng, người ta có thể đánh giá trình độ và quy mô hoạt động của ngân hàng đó. Theo hình thức thanh toán có thể chia dịch vụ thanh toán của ngân hàng thành ba loại.
Một là, thanh toán bằng séc: là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn do NHNN quy định để yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hoặc người cầm séc. Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến nhất ở hầu hết các ngân hàng trên thế giới. Nhìn chung, thanh toán séc là thể thức đơn giản, thuận tiện được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Hai là, ủy nhiệm chi: là hình thức chủ tài khoản lập ủy nhiệm theo mẫu sẵn của ngân hàng để yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản mình trả cho người thụ hưởng.
Ủy nhiệm chi được dùng để thanh toán trong cùng một hệ thống ngân hàng hoặc khác hệ thống ngân hàng. Ba là, ủy nhiệm thu: là giấy đòi tiền do người thụ hưởng lập gửi ngân hàng để ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hóa và dịch vụ đã cung ứng đối với người mua hàng hóa dịch vụ trên cơ sở hợp đồng ủy nhiệm thu đã thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng từ trước. Dịch vụ ngân quỹ 11 Đây là dịch vụ mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. Ngân hàng cung cấp dịch vụ thu chi tiền mặt cho khách hàng.
Việc thu chi tiền mặt có thể được thực hiện tại quẩy ngân hàng hoặc tại địa điểm mà khách hàng yêu cầu. Dịch vụ này giúp khách hàng không phải tốn nhiều thời gian và công sức trong việc thu chi tiền, được ngân hàng đảm bảo tính an toàn và hưởng lãi. Phía ngân hàng được hưởng lợi ích từ việc khách hàng duy trì số dư trên tài khoản c. Dịch vụ cho thuê ngăn tủ két sắt Đối với dịch vụ này, ngân hàng giữ hộ tài sản cho người dân, có thu phí và không được khai thác tài sản đó.