phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lý luận về phát triển phát triển kinh tế, , phát triển Nông nghiệp bền vững và phát triển chăn nuôi. Phát triển kinh tế Có thể hiểu phát triển kinh tế là một quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống của dân cƣ. Đối với các nƣớc đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình mà nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện CNH - HĐH.
Đó là sự tăng trƣởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật, thậm chí về kỹ năng quản lí, phong tục và tập tục. Tăng trƣởng kinh tế là tiền đề và điều kiện tất yếu của phát triển kinh tế, nhƣng không đồng ngh a với phát triển kinh tế. Tăng trƣởng kinh tế là tăng thu nhập và sản phẩm bình quân đầu ngƣời. Phát triển kinh tế bao gồm cả sự tăng về quy mô sản lƣợng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [12].
Phát triển nông nghiệp bền vững Cho đến nay, có rất nhiều định ngh a về sự phát triển bền vững, trong đó định ngh a đƣợc nhắc đến nhiều nhất là định ngh a của Uỷ ban Thế giới về Môi trƣờng & Phát triển đƣa ra năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tƣơng lai”. Ngày nay khái niệm bền vững phải hƣớng tới: Bền vững về kinh tế bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về môi trƣờng. Về phát triển nông nghiệp bền vững ta có thể dẫn ra định ngh a của Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp (TAC/CGIAR): “ Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngƣời đồng thời cải tiến chất lƣợng môi trƣờng và gìn giữ đƣợc tài nguyên nhiên nhiên” [12]. Phát triển chăn nuôi Khi nói đến phát triển chăn nuôi, ngƣời ta thƣờng quan tâm đến các khía cạnh: số lƣợng, chất lƣợng, hình thức tổ chức chăn nuôi và phƣơng thức chăn nuôi.
4 Phát triển về mặt số lượng: Số lƣợng hay quy mô vật nuôi phụ thuộc vào mục tiêu chăn nuôi hay nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi. Với mục tiêu chăn nuôi để giải quyết vấn đề thực phẩm gia đình thì ngƣời chăn nuôi không nuôi số lƣợng lớn và không quan tâm đến hạch toán chi phí. Với mục tiêu hàng hóa thì số lƣợng vật nuôi đƣa vào chăn nuôi lớn hơn nhiều so với chăn nuôi để giải quyết thực phẩm gia đình. Chăn nuôi là ngành có lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
Quy mô chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là: mặt bằng sản xuất, vốn đầu tƣ, trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngƣời chăn nuôi. Các hộ chăn nuôi có những điều kiện tốt về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tƣ, khả năng tiêu thụ sản phẩm, có chuyên môn kỹ thuật cao sẽ thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi với số lƣợng lớn và ngƣợc lại [8]. Phát triển về mặt chất lượng: Chất lƣợng phát triển chăn nuôi có thể đƣợc đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ: sự tăng trƣởng ổn định trong một thời kỳ nhất định; khả năng chiếm l nh thị trƣờng và khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng; năng suất lao động đạt đƣợc khi phát triển chăn nuôi, lợi ích thu đƣợc của ngƣời chăn nuôi và của cộng đồng xã hội. Chất lƣợng phát triển chăn nuôi cũng phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố quan trọng là: Khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong chăn nuôi của ngƣời chăn nuôi là cao hay thấp; chất lƣợng sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trƣờng cao hay thấp; thu nhập và lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm cao hay thấp; tổng thu nhập và lợi nhuận thu đƣợc của ngƣời chăn nuôi cao hay thấp… Các hình thức tổ chức chăn nuôi: Chăn nuôi có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau phụ thuộc mục tiêu chăn nuôi, các yếu tố về nguồn lực, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm và các yếu tố khác.
Nghiên cứu về các hình thức tổ chức chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, các nhà nghiên cứu chia thành 2 nhóm chăn nuôi là chăn nuôi nhỏ lẻ và chăn nuôi tập trung. Chăn nuôi nhỏ lẻ hiện nay khá phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái. Hiện nay nƣớc ta có khoảng 11 triệu hộ nông dân chăn nuôi gà nhỏ lẻ với mục tiêu chính là giải quyết thực phẩm gia đình, phần sản phẩm của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ bán ra thị trƣờng không nhiều và phần lớn chỉ đƣợc thực hiện khi các hộ có nhu cầu chi tiêu tiền 5 mặt với số lƣợng nhỏ. Chăn nuôi nhỏ lẻ rất tiện dụng đối với các hộ nông dân nhƣng đây lại là hình thức chăn nuôi có hiệu quả thấp, luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch cúm gia cầm.
Chăn nuôi tập trung đƣợc phát triển trong các hộ, các trang trại, doanh nghiệp có điều kiện về mặt bằng sản xuất, về vốn đầu tƣ, về nhân lực, công nghệ và thị trƣờng tiêu thụ. Mục tiêu chính của những ngƣời chăn nuôi theo những hình thức này là chăn nuôi hàng hóa tìm kiếm lợi nhuận. Tại Việt Nam hiện nay số lƣợng các chủ hộ, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm tập trung tuy không nhiều nhƣng lại chiếm tỷ trọng đáng kể về sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trƣờng xã hội. Phát triển chăn nuôi tập trung sẽ có những thuận lợi nhất định trong việc hình thành vùng sản xuất hàng hóa và thuận tiện kiểm soát dịch cúm lây lan.
Các phương thức chăn nuôi gà trên thế giới và Việt Nam * Phương thức chăn nuôi truyền thống Là hình thức chăn thả tự nhiên, hình thức chăn nuôi truyền thống hiện vẫn tồn tại và phát triển hầu hết ở các vùng nông thôn đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển và các nƣớc chậm phát triển. Việt Nam với gần 80% dân số sống ở nông thôn thì chăn nuôi gà theo hình thức quảng canh vẫn là chủ yếu. Phƣơng thức chăn nuôi này có đặc điểm: Vốn đầu tƣ ban đầu ít, đàn gà đƣợc thả rông, tự do tìm kiếm thức ăn, tự ấp và nuôi con. Thời gian nuôi gà thịt từ 4 - 5 tháng mới đủ trọng lƣợng giết thịt.
Trọng lƣợng lúc đủ tuổi giết thịt là 1,3 - 1,5kg. Do chăn nuôi thả tự do, môi trƣờng chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh khiến đàn gà d mắc bệnh, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả chăn nuôi không cao. Tuy nhiên, phƣơng thức chăn nuôi này cho chất lƣợng thịt rất thơm ngon, đầu tƣ thấp, không thích hợp với quy mô chăn nuôi lớn, yêu cầu chăn nuôi có vƣờn thả rộng [6]. Các giống gà phù hợp với phƣơng thức chăn nuôi truyền thống là giống gà Ri, Đông Tảo, Hồ, Mía,… là những giống cần cù chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, thịt có hƣơng vị thơm ngon đặc biệt đối với từng loại gà, từng địa phƣơng.
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2015 có tới 65% hộ gia đình nông thôn chăn nuôi gà theo phƣơng thức này (trong tổng số 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia 6 cầm) với tổng số gà theo thời điểm ƣớc tính khoảng 110-115 triệu con (chiếm khoảng 50-52% tổng số gà xuất chuồng của cả năm). * Phương thức chăn nuôi công nghiệp Phƣơng thức này dựa trên cơ sở thâm canh tăng năng suất trên một đơn vị diện tích chuồng nuôi, dùng các giống gà cao sản để tạo ra sản lƣợng thịt, trứng nhiều nhất, hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất, cùng với sự đầu tƣ về trang thiết bị, chuồng trại tiên tiến, tự động hoá thao tác, quy trình chăn nuôi, thức ăn hỗn hợp đƣợc chế biến theo phƣơng pháp công nghiệp, điều kiện, môi trƣờng chăn nuôi đều theo ý muốn chủ quan của con ngƣời. Hình thức chăn nuôi này còn gọi là chăn nuôi theo phƣơng thức công nghiệp. Phƣơng thức chăn nuôi này có ƣu thế là cho sản phẩm nhanh với năng suất cao, d đƣợc ngƣời chăn nuôi chấp nhận.
Các nhà khoa học đã tạo ra một bƣớc đột phá trong công nghệ sản xuất con giống, thức ăn hỗn hợp để phù hợp với phƣơng thức chăn nuôi này. Kết quả là rút ngắn ngày nuôi, sản phẩm đƣợc sản xuất ra nhiều hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn cho một đơn vị sản phẩm. Chăn nuôi gà công nghiệp phát triển trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhƣng mạnh nhất là từ 2001 đến nay. Các giống nuôi chủ yếu là các giống cao sản (Isa, Lomann, Ross, Hiline,.), sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhƣ chuồng kín, chuồng lồng, chủ động điều khiển nhiệt độ, ẩm độ, cho ăn uống tự động [8].
Chăn nuôi công nghiệp chủ yếu là hình thức gia công, liên kết của các trang trại với các doanh nghiệp nƣớc ngoài nhƣ C.P Group, Japffa, Cargill, Proconco. Ngoài ra, rất nhiều hộ nông dân, trang trại có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm chăn nuôi cũng tƣ chủ đầu tƣ chăn nuôi theo phƣơng thức công nghiệp này. * Phương thức chăn nuôi gà bán công nghiệp (chăn nuôi gà vườn, gà đồi có áp dụng tiến bộ kỹ thuật) Đây là phƣơng thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm nuôi gà truyền thống với chăn nuôi theo quy trình có áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến qua các giai đoạn. Phƣơng thức chăn nuôi này xuất hiện từ nhu cầu thực tế của xã hội đòi hỏi càng nhiều về số lƣợng sản phẩm nhƣng chất lƣợng sản phẩm cao, hƣơng vị sản phẩm thơm ngon.
7 Phƣơng thức chăn nuôi này là sự kết hợp tiến bộ kỹ thuật về con giống nuôi năng suất cao và chất lƣợng thịt thơm ngon với thức ăn sử dụng là thức ăn hỗn hợp, kết hợp với thức ăn sẵn có ngoài tự nhiên. Khi chăn nuôi gà theo phƣơng thức này, thời gian 1,5 - 2 tháng đầu gà đƣợc nuôi nhốt hoàn toàn và cho ăn thức ăn công nghiệp (nuôi úm).