Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU PHÂN BỔ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về phân bổ nguồn nước 1. Các khái niệm cơ bản trong phân bổ nguồn nước Cân bằng nước là một vấn đề luôn được quan tâm bởi nó vừa là phương pháp vừa là đối tượng nghiên cứu. Cân bằng nước thể hiện mối tương quan giữa nước đến và nước đi của hệ thống nguồn nước trong đó đã bao gồm các yêu cầu về nước và khả năng điều tiết của chúng.
Lượng nước đến bao gồm các dạng nước mưa, dòng chảy đến và nước hồi quy sau khi sử dụng, lượng nước đi bao gồm lượng nước tiêu hao cho các hoạt động sử dụng nước, bốc hơi, ngấm và dòng chảy ra khỏi lưu vực. Từ đó đánh giá mối tương quan giữa các thành phần trong hệ thống và các tác động của môi trường xung quanh lên nó để đề ra các biện pháp phân bổ tài nguyên nước một cách hợp lý [16]. Lưu lượng nước có thể dùng để phân bổ cho các ngành khác nhau được xác định dựa trên công thức nước có thể sử dụng trừ đi dòng chảy môi trường, theo đó, lượng nước dùng để phân bổ phụ thuộc vào đặc điểm thủy văn, cơ sở hạ thầng và nhu cầu môi trường. Tuy nhiên, lượng nước có thể phân bổ cũng phụ thuộc vào mục đích sử dụng nguồn nước.
Có hai loại phân bổ cơ bản là: (1) Phân bổ theo khu vực: được thực hiện trên các tiểu lưu vực hoặc các khu vực hành chính; (2) Phân bổ theo mục đích sử dụng: được thực hiện với các nhóm đối tượng ngành hoặc theo các kế hoạch cấp nước. Trong khuôn khổ luận văn, dựa trên các mục tiêu chính sách phát triển kinh tế xã hội của các nhóm ngành, học viên đã sử dụng hình thức phân bổ theo khu vực hành chính, cụ thể là tỉnh Hà Nam. Việc phân bổ nguồn nước ở đây là việc cân đối giữa trữ lượng nước có thể phân bổ với các nhu cầu sử dụng nước, do đó, bản chất và nhu cầu sử dụng nước của các đối tượng sử dụng nước sẽ ảnh hưởng đến lượng nước có thể phân bổ trong khu vực [6]. Tổng quan các nghiên cứu và phương pháp phân bổ nguồn nước 1.
Trên thế giới Phân bổ nguồn nước đầu tiên trên thế giới xảy ra vào thế kỷ 19 do sự phát triển mạnh mẽ của việc xây dựng các đập ngăn nước với sức chứa lớn, gây ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng nước quy mô rộng rãi trên toàn lưu vực chứ không chỉ ảnh hưởng cục bộ. Nước được phân bổ dựa trên thỏa thuận của các đơn vị có liên quan, dựa trên lợi ích của người dùng phía hạ lưu đồng thời xét đến hệ thống nông nghiệp thủy lợi. Tuy nhiên, các thỏa thuận phân bổ nguồn nước khi đó vẫn tương đối đơn giản, chỉ lập ra các yêu cầu đối với các nguồn nước xuyên biên giới hoặc hạn chế xây dựng các công trình ngăn nước, trữ nước trên sông. Trong suốt thập niên 1990 và cho đến nay, việc phân bổ nguồn nước đã thay đổi từ đơn giản đến phức tạp và cụ thể hơn với mục đích tối đa hóa các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
Nguyên nhân của việc phân bổ nguồn nước ngày càng phức tạp bắt nguồn từ tình trạng khan hiếm nguồn nước và sự cạnh tranh về nguồn nước ngày càng gia tăng. Các thỏa thuận và quy hoạch phân bổ nguồn nước được thực hiện trong hơn một thế kỷ qua bao gồm các thỏa thuận trên các con sông Colorado, Indus, Muray – Darling, Lerma – Chapala và sông Hoàng Hà, những thỏa thuận này phản ánh sự chuyển đổi theo thời gian trong việc tiếp cận phân bổ nguồn nước lưu vực, chỉ rõ sự nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề áp lực giữa dân số - kinh tế - môi trường [16]. Về cơ bản, mục đích phân bổ nguồn nước không có gì thay đổi, tuy nhiên, sự gia tăng về nhu cầu dùng nước để đáp ứng sự gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế cùng với sự xuống cấp của các hệ sinh thái và hệ thống sông dần mất đi chức năng của nó dẫn đến những thay đổi về tính chất của các phương pháp tiếp cận hiện đại trong phân bổ nguồn nước với các đặc điểm dưới đây. Chú trọng hài hòa giữa các đối tượng sử dụng hơn phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng: Quy hoạch phân bổ nguồn nước hiện nay thường được thực hiện với các lưu vực kín với trữ lượng nước hạn chế hoặc không có thêm trữ lượng.
Vì vậy, cần tập trung nhiều hơn về quản lý nhu cầu và tối ưu hóa việc sử dụng nguồn cấp nước hiện tại. Luan van 6 Đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu: Phân bổ nguồn nước đã phát triển từ không xét đến nhu cầu nước cho môi trường đến đảm bảo dòng chảy tối thiểu. Việc duy trì dòng chảy tối thiểu trước hết là có sự hiểu biết về mối tương quan giữa hệ sinh thái môi trường với các lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng. Thứ hai, thay đổi cơ chế dòng chảy gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái và đánh mất đi lợi ích mà nó mang lại.
Thứ ba, các thành phần dòng chảy khác nhau phục vụ cho các mục đích khác nhau của hệ sinh thái. Tính linh hoạt trong phân bổ: Kinh tế xã hội thay đổi nhanh thúc đẩy sự thay đổi trong cách thức phân bổ, thay đổi các cơ chế phân bổ không còn phù hợp trước đây. Phổ biến nhất là tái phân bổ giúp chuyển nguồn nước sử dụng cho mục đích nông nghiệp sang các mục đích khác như phát triển đô thị và công nghiệp mang lại lợi ích kinh tế cao. Tập trung quản lý hiệu quả và tăng năng suất sử dụng nước: Mối quan tâm về hiệu quả và năng suất sử dụng nước đã trở thành trọng tâm của hoạt động phân bổ nguồn nước.
Áp dụng phương châm, sản xuất nhiều hơn với nguồn nước ít hơn, đồng nghĩa với việc ngành có hiệu quả sử dụng thấp sẽ hạn chế phân bổ nguồn nước. Việt Nam Quản lý tài nguyên nước hiệu quả luôn là một vấn đề quan trọng và rất được quan tâm tại Việt Nam với mục tiêu phát triển kinh tế một cách bền vững. Để đạt được mục tiêu đó đã có những chính sách xem xét phát triển bền vững và hiệu quả, đồng thời có sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần, đạt được sự tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường. Đến nay, việc xây dựng phương pháp tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam đang được thực hiện theo các nguyên tắc: hiệu quả về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng xã hội nhằm cụ thể hóa vai trò của quản lý tổng hợp tài nguyên nước để hỗ trợ việc ra quyết định phân bổ và quản lý nguồn nước ở cấp lưu vực sông hoặc tiểu lưu vực.
Luan van 7 Trong Luật Tài nguyên nước 2012 [3] đã quy định nước cho sinh hoạt phải được ưu tiên đã cho thấy việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cuộc sống là quan trọng nhất. Tại cuộc Hội thảo về quản lý dòng chảy môi trường tổ chức tại Tam Đảo do USAEP tài trợ đã khẳng định: các nhu cầu, yêu cầu và giá trị con người sẽ quyết định đến việc phân bổ nguồn nước. Việt Nam đang trên đà phát triển, đồng nghĩa với việc các nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng lên tác động đến yêu cầu nguồn nước. Theo báo cáo của Ủy ban sông MêKông dự đoán, nhu cầu nước cho sinh hoạt và công nghiệp thuộc lưu vực sông MêKông (nằm trong phạm vi Việt Nam) sẽ tăng từ 900 triệu m3 (năm 1990) lên 2000 triệu m3 (năm 2020) trong khi nhu cầu nước cho thủy điện tăng gần sáu lần, từ 2 GW (năm 1993) lên 11,2 GW (năm 2020).
Vì vậy, việc phân bổ nguồn nước cũng cần phải thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng các nhu cầu của các đối tượng sử dụng nước do nguồn tài nguyên nước có hạn, đặc biệt là giai đoạn mùa khô. Hiệu quả kinh tế là yêu cầu quan trọng trong việc phân bổ nguồn nước để với cùng một khối lượng nước phải đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu nhất đồng thời vẫn đáp ứng được yêu cầu dùng nước của các ngành và đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu. Theo báo cáo về mô hình kinh tế - thủy văn của Ringler và Huy (2004) với lưu vực sông Đồng Nai trong việc tối ưu hóa phân bổ nguồn nước cho các mục đích công nghiệp, sinh hoạt, tưới nông nghiệp và phát điện cho thấy có sự thay đổi đáng kể từ việc phân bổ nguồn nước trong phương án tối ưu. Cụ thể, chuyển từ cấp cho cây trồng có giá trị sử dụng nước thấp (mía, ngũ cốc) sang cấp cho cây trồng có giá trị sử dụng nước cao ở vùng đất cao (đậu trong mùa khô, rau quả trong mùa mưa) đã tăng giá trị kinh tế nông nghiệp.
Với 1 m3 nước, hạt tiêu chỉ thu được 1,4 USD trong khi với rau quả thu được 2 – 3 USD, ngoài ra diện tích tưới giảm khoảng 75.000 ha nhưng diện tích trồng ở vùng đất cao lại tăng lên. Một mô hình tương tự được áp dụng với lưu vực sông MêKông (Ringler, 2001) đã tối ưu hóa việc phân bổ nguồn nước cho thủy sản, thủy điện, nông nghiệp, đô thị, công nghiệp và các vùng đất ngập nước đã đưa tổng lợi ích sử dụng nước sông MêKông lên khoảng 825 triệu USD/năm. Việc đánh cá và các mục đích sử dụng không trực tiếp trên dòng chảy Luan van 8 như: tưới, đô thị và công nghiệp đã được xem xét lựa chọn phương án phân bổ tối ưu. Kết quả tính toán mô hình cho thấy việc thay đổi cơ cấu mùa vụ sẽ tiết kiệm được một lượng nước khá lớn trong mùa khô so với phương án canh tác độc canh.
Khu vực nghiên cứu Trên phạm vi của Tỉnh Hà Nam các nghiên cứu về tài nguyên nước vẫn chưa được quan tâm nhiều, các nghiên cứu mới được đề cập đến trong 5 năm gần đây với 2 Dự án Quy hoạch phân bổ tài nguyên nước tỉnh Hà nam được phê duyệt vào năm 2011 và 2017. Nội dung các dự án đã thực hiện: - Dự án quy hoạch tài nguyên nước năm 2011 [13], nội dung nghiên cứu trong dự án đã sử dụng mô hình WEAP để tính toán cân bằng nước, với số liệu tính toán cập nhập đến năm 2010.