mở đầu công việc xây dựng đắt nước bước vào quy mô lớn, đặt nén ting ving chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập”. Ly cũng là một triều đại rất coi trong nông nghiệp. Bap để tị thủy đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyển lợi của quốc gia, không thé phó mặc cho sự tự phát của dân chúng. ‘Nhung cũng mãi đến năm 1077 triều đỉnh mới đứng ra chủ trương đắp những con đề cquy mô lớn, Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho dip để sông Như Nguyệt (Sông Clu) dai 67 380 bộ (khoảng 30 km) [2] Sang đến đồi Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyển sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối.
cải tạo một số tuyển vồng veo bit hợp lý. VỀ cơ bản những huyền dé đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyển để sông Hong và sông Cầu. VỀ kỹ thuật dip đê thời kỳ này là một bước nhảy vọt, tạo nên thể nước chảy thuận hơn, mặt khác cũng phải có những tiễn bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xá định được tuyến đệ, chiều cao đề từng đoạn cho phù hợp với đường mặt nước lũ. Ngoài việc dip đê, nhà Trần còn rất coi trong công tác hộ đê phòng lụt đặt thành rách nhiệm cho chính quyền các cũng vậy, vào, tháng sáu, tháng bay (mùa lũ) các viên để sứ phải dich thân di tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bd ngay, hễ biếng nhá nỗi trôi dân cư, ngập lúa ma, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà khiển phat” [2] Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thong đê điều đã có và phát t lên.
Theo sách Đại \ m thực lục thì dưới tiểu Nguyễn năm đó vua còn cho dip bay đoạn dé mới ở Bắc Bộ, Đến tháng 9 năm 1809, tiểu Nguyễn đã ban hành đi về để điều ở Bắc Bộ với các quy định rit chat chế iệc kiểm tra, phò -hống ũ và giá c hệ thống đểđiễu hàng năm. Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tim quan trọng và kinh tế chính trị của Bắc Kỷ. ngay từ những ngày đầu thiết lập nên đồ hộ, chính quyển Pháp cũng rắt chú trong đến tỉnh hình đê điều và thuỷ cia Việt Nam. Trong quá tình cai tị của mình, chính quyền Pháp đã gặp phải Không ít những thiệt hại do thiên ai, lũ lụt gây ra, đặc biệt trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại rất nghiêm trong về người và nhà cửa.
Sau trận Tut lịch sử đó, trước áp lực của dư luận, chính quyển thực dân đã nghiên cứu thực hiện một ké hoạch đắp dé Bắc BO tương đối quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn vận dụng như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; xây dựng hd chứa ở thượng nguồn để cắt lũ; dip đẻ cao hơn mức lũ đặc bigt; cũng cổ dé hiện tại và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đ có kế hoạch duy tu đê điều hàng năm, Việ Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đồi gió mùa với địahỉn địa mạo phong phú, các tiền núi phía Tây, Tây Bắc, phia Đông bao bọc bởi biển, hệ thống sông ngôi diy đặc, Các khu din cơ, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển 6 đọc theo các vũng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tổ là và nguy cơ ngập lụt. Hệ thống dé dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được. công cha ta sit dung từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông vả toàn bộ vùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt. Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có Khoảng 7.000 km là để sông, cin lại là để biển với khối lượng đất ước tính là 520 triệu m3.
Sự hình thành hệ thống đề thể hiện sự đồng góp, cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thé ky qua. Mặc dù tại một số nơi dé còn chưa đảm bio tính én định cao đối với lũ lớn, tuy vậy vai tò bảo vệ của các tuyển dé sông hay hệ thống dé biển là rất to lớn và không thé phủ định. Hàng năm, hệ thing để này đều được đầu tư cũng cố, ning cấp, đặc biệt sau khi xây ra lũ lớn, dé sông đã từng bước củng cổ vững chắc dip ứng được yêu cầu chống lũ đặt ra của từng thời kỳ. Vai trò của hệ thẳng đê điều đối với sự phát triển kinh tễ xã hội Vigt Nam Hệ thống để éu của nước ta đồng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài san, mùa.
màng, tính mạng của người dân, giúp góp phần phát triển kinh tế xã hội của đắt nước. Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú. Lượng mưa trung bình hang năm của cả nước đạt gn 2000mm. Việt Nam có mật độ sông ngồi cao, có khoảng 2360 con sông với chigu dài từ 10km tở lên và hi hết sông ngòi déu chiy ra biển đông.
Tông lượng dong chảy tung bình vào khoảng 830 tỷ mỗinăm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài. Phân bố mưa và dòng chảy năm không đều, 75° lượng mưa và ding chảy tập trung vào 3-4 thing mủa mưa. Mùa mưa lại tring vào mia mưa bão, nên Việt Nam luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lục Việt Nam với đặc thủ 1a nu “cô đường ba biển đài hơn 2000km vi thể tim quan trọng của các hệ thống đê sông và dé biển là cực kỳ quan trọng. Hàng năm Việt Nam đón nhận hon 10 cơn bio từ biển đông, cùng với các hiện tượng thời tiết khác về mùa mưa bão khiến mực nước các sông thường ding lên rit nhanh.
Bao vào Việt lam ngày càng, mạnh, s ng vào từ các cơn bão thường rất lớn vi vậy đối với Việt Nam hệ thống để i à cực kỳ quan trọng để bảo vệ tính mạng và tài sản của người dn và của nhà nước. Bởi vậy, ngay từ khi hòa bình lập lại, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đầu tư cho hệ thống các công trình dé điều v đội ngũ cán bộ đã được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề, tăng cường áp dụng công các tiễn bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý và vận hàng các công trình Công tác quản lý hệ thống đ điều, biện pháp phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai trong thời gian qua cũng được quan tâm đặc biệt, nhiều hệ thống đ điều được xây mới góp phin giảm số người chết và thiệt hại kinh tế. Ngoài ra hệ thống dé điều còn góp phần hình thành mạng lưới giao thông quan trong. sip ang lưu lượng giao thông.
Mục tiêu ban đầu của cúc công trình để điều chỉ nhằm ngăn và chống la, bảo vệ các khu vue được hưởng lợi từ công tinh mang lại. Nhưng: do quá trình phát triển xã hội, công trình dé điều từng bước được đầu tư để cải tạo nâng cắp dip ứng nhủ cầu khai thác sử dụng tổng hợp. Công trinh để không còn chỉ là công tình bing đắt thực hiện mục iêu phòng chống lũ mà còn la công tinh giao thong phát triển kinh tế vùng LL Hệ thing dé sông Việt Nam Dé sông của Việt Nam không ni liền nhau mà tạo thành diy theo hệ thống c Việc phân loại để do Chính phủ quy định đựa vio các tiêu chí như: Số dân được bảo về tim quan trong về quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội: đặc điểm lũ, bão cũ từng vùng; diện tích và phạm vi địa giới hành chính; độ ngập sâu trung bình của các khu dân eur so với mực nước lũ thiết kế; lưu lượng lũ thiết kể. Có nhiều cách phân loại hệ thing để điều: Phân loại theo nhiệm vụ của để điều: Hệ thông dé điều hiện nay được chia làm nhiễu loi tương ứng với từng nhiệm vụ ở time khu vực khác nhau: Để điều là hệ thống công trình bao gồm dé, ké bảo vệ để, cổng qua đề và công tỉnh phụ trợ, Dé sông là đề ngăn nước lũ của sông; Dé biển là để ngăn nước biển, Dé cửa sông là đê chuyển tiếp giữa dé sông với đê biển hoặc bở biển; "Để bao là để bảo vệ cho một khu vực riêng biệt: "Đề bối là để bao vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của dé sông; Đề chuyên đùng là đê bảo vị ho một loại đối tượng riêng biệt 8 theo cấp để : Có 5 cắp để (cắp L II, I, IV, V).
Việc phân cắp để do “Chính phủ quy định dựa theo các iêu chí sau Số din được để bio vệ: ‘Tim quan trong về quốc phòng, an inh, kính tế - xã hội: Die điểm lũ, bão của từng vùng; Điện tích và phạm vi địa giới hành chính; "Độ ngập sâu rung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; Lưu lượng lũ thiết kế Hệ thông dé ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thống đề sông Hồng và hệ théng đê sông Thái Binh, đầy là hệ thống để sông có quy mô lớn nhất nước ta với tổng chiều đài khoảng 2012 km, Nhin chung, để có chiều cao phd biển từ Š ~ 8 mt, có nơi cao tối 11 mét, Trong đó để thuộc hệ thông sông Hồng bao gồm 18 tuyển với tổng chiều dài Khoảng 1.314 km dọc theo các sông: Đà, Thao, Lô, Hồng, Đung, Luge, Tri Lý, Dio, Ninh Cơ và sông Bay, đoạn đề cắp đặc biệt (dé hữu sông Hỏng thuộc nội thành Hà Nội) là 37,09km DE thuộc hệ thống sông Thái Bình bao gồm 27 tuyển với tổng chiều dồi khoảng 698km đọc theo các sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thấi Bình, Kính Thầy, Lai Vu, Cà Lỗ, Văn Úc, Lach Tray, Hóa, Cắm, Bach Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh Các tuyến để ở các tỉnh miễn Trung bao gồm tuyển đề thuộc bệ thống sông Mã và sông Ca diy là hai hệ thống sóng lớn ở Bắc Trung Bộ. Hệ thống dé sông Mã, sông Cả 6 tổng chiều dải là 381,47km, trong 6 chiễu đãi đ thuộc hệ thẳng sông Mã. sông Chu là 316,tkm; Chiều dai để thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km.