CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Peter Rose (2001), Ngân hàng là loại hình thức tổ chức tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và cũng thể hiện nhiều chức năng nhất do với bất ỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.Nguyễn Văn Tiến (2014) đưa ra khái niệm: “Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội”.
Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, thương trường như chiến trường. Và trong tất cả các lĩnh vực, thuật ngữ cạnh tranh đều được sử dụng rất nhiều và phổ biến. Theo Porter (2008), “Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Theo Porter (1985) cho rằng mỗi doanh nghiệp để thành công trên thị trường đều có những lợi thế cạnh tranh khác nhau. Và lợi thế cạnh tranh có thể được biểu hiện ở 3 góc độ như: phí tổn thấp hơn, có những khác biệt độc đáo so với đối thủ hoặc tập trung trước tiên vào một phân khúc thị trường nào đó để phát triển. Cụ thể hơn,về phí tổn thấp có nghĩa là cùng một điều kiện và khả năng kinh doanh như 9 nhau, doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm tương đương về giá, chất lượng, mẫu mã so với đối thủ nhưng với chi phí thấp hơn. Về khác biệt độc đáo chính là nhấn mạnh đến các ưu điểm đặc biệt, nổi trội của sản phẩm như chất lượng, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ…Về tập trung vào một phân khúc thị trường có nghĩa là chủ yếu tập trung, làm thỏa mãn một nhóm đối tượng khách hàng cụ thể.
Có thể phân khúc thị trường dựa theo giới tính, độ tuổi… Việc xây dựng được lợi thế cạnh tranh chính là xây dựng nội lực của doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm có tính riêng biệt, đặc thù so với đối thủ. Đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo Porter (1998), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng thu lợi của các doanh nghiệp.
Sanchez và Heene (2004), NLCT của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó. Như vậy, NLCT của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Nó trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Theo Porter (2008) khái niệm có ý nghĩa duy nhất về NLCT là năng suất, trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian.
Năng lực của cạnh tranh ngân hàng có thể được định nghĩa là mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Dearmon và Grier, 2009). NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững (Nguyễn Minh Tuấn, 2010). Nguyễn Thanh Phong (2010) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra 10 trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những giá trị gia tăng về nội sinh và ngoại sinh mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng và khai thác các nguồn nội lực cũng như tận dụng các cơ hội bên ngoài một cách hiệu quả nhất.
Qua đó doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh vượt trội so với đối thủ hiện tại cũng như đối thủ tiềm ẩn trong tương lai”. Theo Titko và Lace (2012), năng lực cạnh tranh của ngân hàng là mức độ đáp ứng của ngân hàng đối với nhu cầu của khách hàng. Năng lực cạnh tranh có thể được định nghĩa là khả năng của một tổ chức trong việc thực hiện các hoạt động quan trọng về mặt chiến lược theo cách hợp lý hơn hoặc tốt hơn những hoạt động khác. Trên thực tế, mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp là phát triển một chiến lược mà họ có thể làm tốt hơn các đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại thể hiện qua việc sử dụng, duy trì các lợi thế của chính mình để mở rộng việc phân phối, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị phần và thu lợi nhuận cho ngân hàng đó. Tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Sức mạnh nội tại của ngân hàng • Năng lực tài chính Khái niệm năng lực tài chính của NHTM khác với năng lực tài chính của một doanh nghiệp thông thường. NLTC của một NHTM là nguồn lực tài chính của chính bản thân các NHTM, nó thể hiện cho khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền tệ hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời…đủ để đảm bảo duy trì HĐKDcủa ngân hàng được diễn ra bình thường.
Sự tăng trưởng của nguồn vốn: Là một trong những chỉ tiêu đánh giá tình hình HĐKD, năng lực cạnh tranh của các NHTM. Sự tăng trưởng của nguồn vốn còn quyết định khả năng cho vay, uy tín khách hàng, quản trị rủi ro thanh khoản,… 11 và phản ánh quy mô hoạt động của ngân hàng. Tăng trưởng cho vay khách hàng: Hoạt động tín dụng đã trở thành “cầu nối” trung gian từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Tín dụng không chỉ là một dịch vụ cơ bản để tạo ra một khối lượng lớn tài sản trong tổng tài sản mà còn là nguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại.
Việc đẩy mạnh tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề cốt yếu nhất trong giai đoạn hiện nay của các ngân hàng thương mại. Hiệu quả sử dụng vốn: Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của một NHTM người ta sử dụng 2 tiêu chí phân tích là khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của ngân hàng (hệ số an toàn vốn và chất lượng tín dụng). Khả năng sinh lời của NHTM gắn liền với chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng, là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Mức sinh lời được phân tích qua các chỉ tiêu thu nhập sau thuế trên tổng tài sản (ROA); chỉ tiêu thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên doanh thu.
Hệ số an toàn vốn: Các quy tắc an toàn vốn là chìa khoá để các cơ quan quản lý và khách hàng/cổ đông của ngân hàng trong việc giảm thiểu rủi ro dự kiến mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt, đặc biệt là đối với các giao dịch xuyên biên giới vì các quy tắc này được áp dụng bắt buộc bởi tất cả các ngân hàng quốc tế. Áp dụng các quy tắc này sẽ đạt được sự quản lý và điều hành hợp lý. Cộng đồng tài chính quốc tế rất quan tâm đến việc áp dụng các quy định gần đây liên quan đến an toàn vốn để giảm rủi ro đối với các giao dịch xuyên biên giới và địa phương. Mục tiêu của các ngân hàng là hướng tới áp dụng các quy tắc an toàn vốn theo hiệp định Basel (II & III).
Những quy tắc này đã giúp cải cách hệ thống ngân hàng và đảm bảo khả năng quản lý tài sản và nợ phải trả của các ngân hàng trước những rủi ro nhận thức được. Chất lượng tín dụng: Sự lành mạnh của hoạt động cho vay ngân hàng là một thách thức quan trọng đối với các cơ quan quản lý do tác động của nó đối với sự ổn định tài chính, không kém gì đối với ban quản lý ngân hàng. Các khoản nợ xấu (NPL), cụ thể là các khoản cho vay có vấn đề với dư nợ ít nhất là 90, thường được 12 coi là một đại diện hợp lệ cho rủi ro tín dụng của ngân hàng và được cho là một chỉ báo sớm phù hợp cho thấy tình trạng khó khăn của ngân hàng là đặc điểm chung của nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng (Kaminsky và Reinhart, 1999) • Trình độ công nghệ ngân hàng Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM. Để năng cao chất lượng SPDV nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng.
Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó không những giúp các NHTM thể hiện sức mạnh của ngân hàng mà còn góp một phần lớn vào giảm thiểu chi phí lao động do xu hướng khách hàng ngày càng muốn có thể tự mình thực hiện được nhiều giao dịch mà không cần phải đến chi nhánh, PGD của ngân hàng.