Chương 1: Những van dé cơ bản về hiệu quả nguon vốn ODA Chuong 2: Thuc trang hiéu qua von ODA tai ngân hàng phát triển việt nam từ năm 2011 đến nay Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vốn ODA của ngân hàng phát triển việt nam CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE HIEU QUA NGUON VON ODA 1. TONG QUAN VE NGUON VON PHAT TRIEN CHINH THUC 1. Khái niệm và các hình thức ODA * Khái niệm ODA là tên viết tắt 3 chữ cái đầu của tiếng Anh “Official Development Assistance” có nghĩa là “Hỗ trợ Phát triển Chính thức” Năm 1972, lan đầu tiên Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECF) đã đưa ra khái niệm về ODA như sau “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%” Tuy nhiên, năm 1999 theo Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới (WB), có đưa ra khái niệm về ODA như sau: “ODA là một phần của Tài chính Phát triển chính thức (ODF) trong đó có yếu tô viện trợ không hoàn lại với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” Theo chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam - tháng 12 năm 2002” có đưa ra khái niệm về ODA như sau: “Viện trợ Phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thé là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii) chủ yếu nhằm thúc đây phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp các khoản ưu dai về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại chiếm ít nhất là 25%)” Ngày 04/05/2001, lần đầu tiên Nghị định 17/2001/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về Quý chế Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đưa ra khái niệm vé ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ bao gồm : (1) Chính phủ nước ngoài; (ii) các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia” Mặc dù còn có nhiều khái niệm về ODA nhưng đều thống nhất ở 4 vấn dé cơ bản sau: Hỗ tro phát triển chính thức thé hiện: (i) mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính: “Hỗ trợ” giữa những quốc gia này với quốc gia khác nhằm day (ii) “Phát triển kinh tế - hỗ trợ thông qua con đường (iii) “Chính thức” giữa cấp Nhà nước và Nhà nước, giữa Nhà nước hoặc Chính phủ với các tô chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và mối quan hệ “Hỗ trợ phát triển chính thức này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng một phan cho không (phan không hoàn lại hay còn gọi là thành tô hỗ trợ) kế tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nước này cam kết dành cho nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội đã định và giá tri it nhat 25% SO VỚI tong gia tri viện trợ”.
Từ những cach hiểu trên, có thé rút ra kết luận như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chính là nguồn vốn cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn ODA cho không có ràng buộc mà quốc gia này dành cho quốc gia khác có thé là trực tiếp, có thé là gián tiếp thông qua hình thức ủy thác cho các Tổ chức quốc tế đa phương thực hiện. Tính ưu đãi của ODA thể hiện qua phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân han, lịch trả nợ. đối với phần cho vay, và nếu đem so sánh hoặc quy đổi các ưu đãi này ra so với nguồn tín dụng thương mại thì quốc gia tiếp nhận nguồn vốn phát triển chính thức sẽ được hưởng “phân cho không” ít nhất là 25% đến 100% so với toàn bộ giá trị khoản vay ưu đãi đó. ePhân loại nguỗn vốn ODA: Theo thông lệ quốc tế, các khoản viện trợ có thể được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau.
(1) Nếu phân theo tính chất tài trợ thì ODA gồm: viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại và viện trợ hỗn hợp. (2) Nếu theo điều kiện tài trợ thì ODA gom : không rang buộc, có rang buộc, hỗn hợp. (4) Nếu phân theo hình thức thực hiện thì ODA gồm: hỗ tro theo dư án. hỗ tro phi du án.
(5) Nếu theo mục đích sử dung thi ODA gồm hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật; Tuy nhiên, về cơ bản hiện nay ODA có 3 hình thức cung cấp như sau: ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ.ODA không hoàn lại hay còn gọi là hỗ trợ kỹ thuật là một phan không thé tách rời của nguồn vốn ODA nói chung, chúng được dung chủ yếu cho các đầu vào hay còn gọi là “phần mềm” phục vụ phát triển tức là hỗ trợ dé phát triên nguồn nhân lực và thé chế, chuyển giao tri thức, công nghệ và đầu vào mang tính kỹ thuật cao khác mà các quốc gia nhận tài trợ không có khả năng thực hiện được. ODA không hoàn lại hay hỗ trợ kỹ thuật khác với hỗ trợ vốn để giúp các nước đang phát triển thực hiện các dau vào còn gọi lai “phần cứng” như xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội v. ODA cho vay ưu đãi: hay còn gọi là tín dụng ưu đãi là các khoản vay mà yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất là 25% so với tổng giá trị khoản vay. ODA hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thơi với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại yếu tố không hoàn lại phải đạt ít nhất trên 25% so với tổng giá trị của khoản vay đó.
Các phương thức viện tro Theo thông lệ quốc tế thì ODA có thê được viện trợ dưới nhiều phương thức khác nhau. Mỗi phương thức đều có một cơ cấu quản lý, qui định về ké toán, kiểm toán và các điều kiện đi kèm khác nhau. Song nhìn chung, hiện nay có một số phương thức cung cấp ODA cơ bản như sau: Viện trợ theo chương trình: Là một thuật ngữ chỉ các khoản hỗ trợ vào các lĩnh vực như dau tư hỗ trợ cán cân thanh toán và ngân sách của Chính phủ. Theo phương thức này, có 4 loại cơ bản như sau: Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường có nghĩa là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyền giao tiền tệ ) cho các nước đang phát triển.
Nhưng đôi khi lại là hiện vật ( hỗ trợ hàng hóa hoặc hỗ trợ xuất khâu). Ngoại tệ hoặc hàng hóa chuyển vào nước nhận viện trợ qua hình thức hỗ trợ, cán cân thanh toán có thể được chuyền hóa thành hỗ trợ ngân sách, điều này xảy ra khi hàng hóa nhập khẩu băng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ. Hỗ trợ ngân sách: Cũng tương tự như hỗ trợ cán cân thanh toán, tuy nhiên với loại hình này thì các điều kiện tập trung chủ yếu vào việc sử dụng vốn của nhà tài trợ đối với ngân sách Chính phủ chứ không phải là các vấn đề liên quan đến cán cân thanh toán. Chính phủ phải có trách nhiệm giải trình các báo cáo thu — chi đã qua kiểm toán.
Hỗ trợ ngân sách theo ngành: Là việc cung cấp các khoản tài chính cho một ngành cụ thể, ví dụ như ngành y tẾ, ngành giáo dục v.kèm theo các khoản viện trợ này là các điều kiện liên quan đến kế hoạch chi tiêu của ngành và kế hoạch cải cách chính sách ngành. Giảm nợ: Giảm nợ cũng được coi là một biện pháp hay hình thức thực hiện viện trợ. Giảm nợ là việc xóa một phân nợ nước ngoài của Chính phủ. Chính vì vậy, nó giúp cho ngân sách hiện có của Chính phủ được tang lên, bằng cách giảm nợ sẽ giúp tăng thêm nguồn lực cho Chính phủ.
Viện trợ theo dự án: Là những khoản viện trợ theo các mục tiêu cụ thể. Các hoạt động va chi tiêu của dự án sẽ được chỉ tiết hóa và thường không đòi hỏi phảï kèm theo cáé điều kiện liên quan đến lĩnh vực thay đổi chính sách. Có 3 phương thức cơ bản sau đây mà các nhà tài trợ thường sử dụng dé hỗ trợ cho các dự án phát triển: Viện trợ dự án được chuyển qua chính phủ: Theo hình thức nay, chính phủ các nước tiếp nhận tài trợ phải tự chịu trách nhiệm về quản lý dự án, tự kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn của các nhà tài trợ. Cơ chế cấp vồn này thường thấy đối với các nhà tài trợ đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Viện tro dự an do nhà tài trợ quản lý: Trong trường hợp này, các nhà tài trợ lập đơn vị quản lý dự án đặc biệt chịu trách nhiệm thực hiện dự án và quản lý vốn của nhà tài trợ. Vốn được giải ngân và hạch toán theo các thủ tục của các nhà tài trợ, cơ chế cấp vốn này thường thấy ở các dự án do các nhà tài trợ song phương. Viện trợ dự án được chuyển qua các Tổ chức phi Chính phú (NGOs): Đây là một trong những hình thức đang ngày càng trở thành một hình thức hỗ trợ thông dụng của các nhà tài trợ, trong trường hợp này các nhà tài trợ có thé viện tro cho NGOs trên cơ sở dé xuất dự án được xác định phù hợp. eĐặc điểm của vốn ODA: Nguồn vốn ODA có 4 đặc điểm sau: Một là, ODA là nguồn von hợp tác phát triển Từ khái niệm về ODA chúng ta đã thấy: ODA là hình thức hợp tác phát trién của Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại và/hoặc các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi.
Ngoài ra, bên viện trợ thông qua các khoản cho vay ưu dai/cac khoản viện trợ không hoàn lại sẽ cung câp cho bên được viện trợ hàng hóa, chuyên giao khoa học - kỹ thuật, cung cấp dịch vụ.