Mở đầu của quá trình sản xuất, vốn kinh doanh mang hình thái tiền tệ (T). Sau đó doanh nghiệp dùng tiền này để đầu tư, mua sắm tư liệu lao động (TLLĐ), đối tượng lao động (ĐTLĐ) và thuê sức lao động (SLĐ) để phục vụ cho quá trình sản xuất. Lúc này vốn đầu tư từ hình thái tiền tệ trở thành hình thái các yếu tố của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất được tiến hành, tạo ra sản phẩm hàng hoá và vốn tồn tại dưới dạng tư bản hàng hoá.
Cuối cùng, khi tiêu thụ hàng hoá xong, vốn kinh doanh lại từ trạng thái hàng hoá chuyển sang hình thái tiền tệ tức trở về hình thái ban đầu. Trong quá trình vận động, 4 vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm kết thúc phải là giá trị (T’ > T). Song nếu tiền vận động không quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không hiệu quả. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến chu kỳ vận động tiếp theo của vốn.
Vậy, trong quá trình vận động tuần hoàn thì vốn phải được bảo toàn giá trị và lớn dần lên. Ngoài ra, tuỳ theo từng đặc điểm loại hình doanh nghiệp mà phương thức vận động của vốn có đơn giản hơn. Với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, vốn vận động theo công thức (T-T’). Với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, sự vận động của vốn thể hiện qua phương thức: T – H – T’.
Nhờ có sự vận động đó, đồng vốn mới có khả năng bảo toàn và sinh lời. Như vậy ta có thể rút ra kết luận : * Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh có những đặc trưng cơ bản sau : - Được biểu hiện bằng giá trị tài sản thực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tức là vốn được biểu hiện bằng những giá trị của tài sản hữu hình hoặc vô hình như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, chất xám, thông tin… - Phải luôn vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để tiền trở thành vốn, tiền phải được sử dụng cho mục đích kinh doanh, tiền phải vận động để sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị và giá trị tăng lên. 5 - Phải phát huy tác dụng khi đã tích tụ tập trung đến một lượng nhất định. Vốn phải đạt đến một đai lượng đủ lớn mới có thể hoạt động để sinh lời.
Để đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của chủ doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn bên ngoài như kêu gọi góp vốn, phát hành cổ phiểu, trái phiếu, liên doanh liên kết. - Phải gắn với một hoặc nhiều chủ sở hữu nhất định. Khi đồng vốn gắn với chủ sỡ hữu nhất định thì mới hướng người ta quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, bởi đó chính là lợi ích của chính họ. - Phải có giá trị về mặt thời gian.
Điều này cũng có ý nghĩa là các doanh nghiệp phải xem xét yếu tố thời gian vận động của vốn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua hay giá trị của dồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Bởi vậy sự bảo toàn giá trị và mức sinh lời của vốn phải tính tới những biến động của giá cả hàng hoá và giá trị đồng tiền. Mặt khác vốn tồn tại dưới dạng tài sản cố định sẽ bị hao mòn vô hình rất nhanh, tỷ suất khấu hao nhanh nên cần phải tính đến thời gian vận động sinh lời của vốn kinh doanh.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là hàng hoá song đó là một loại “hàng hoá đặc biệt”.3 Phân loại vốn kinh doanh * Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, có thể chia vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành 2 loại chính là vốn cố định và vốn lưu động. Hai bộ phận này có đặc điểm chu chuyển khác nhau, tỷ trọng của chúng trong sản xuất kinh doanh tùy thuộc vào độ dài của chu kỳ sản xuất , trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ quản lý trong doanh nghiệp .Đối với mỗi doanh nghiệp việc xác định hợp lý tỷ trọng giữa hai loại vốn này rất quan trọng, nó đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả vốn trong quá trình hoạt động 6 sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Ta đi xem xét từng loại vốn này trong doanh nghiệp. - Vốn cố định của doanh nghiệp: Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình. Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của TSCĐ.
Tài sản cố định là gì? Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, gữi vai trò quan trọng trong sản xuất mà đặc điểm của chúng là tham gia nhiều vào quá trình sản xuất, gữi nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, bị hao mòn dần, giá trị của chúng chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm trong mọi chu kỳ sản xuất Đặc điểm vận động của TSCĐ quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ .Trên cơ sở đó ta có thể khái quát sự vận động của của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau : + Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh. + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển + Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định. Từ những đặc điểm trên ta có thể rút ra kết luận về vốn cố định như sau : Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước của tài sản cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của 7 vốn kinh doanh.Việc tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Quản lý vốn lưu động được coi là trọng điểm trong công tác tài chính doanh nghiệp, để làm được điều đó, ta phải tiến hành nghiên cứu cách phân loại tài sản cố định. Phân loại tài sản cố định : -Theo hình thái biêủ hiện và công dụng kinh tế bao gồm: + Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh.Căn cứ vào công dụng kinh tế có thể chia làm các nhóm sau :nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dụng cụ quản lý, vườn cây lâu năm. + Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vô hình. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để ra quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu cho hợp lý.
- Theo mục đích sử dụng bao gồm : + Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố định đang dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp + Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng : Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được kết cấu tài sản cố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính 8 khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại tài sản cố định -Theo tình hình sử dụng : 03 lọai + Tài sản cố định đang sử dụng + Tài sản cố định chưa cần dùng + Tài sản cố định không cần dùng ,chờ thanh lý. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được tình hình sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp. Từ đó đưa ra các biện pháp sử dụng tối đa các tài sản cố định hiện có, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cần dùng để thu hồi vốn.
Tài sản cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong trong toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất ) nên việc tổ chức và sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi vốn cố định là thước đo năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó chi phối năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, quyết định tính cạnh tranh của doanh nghiệp. - Vốn lưu động của doanh nghiệp : Là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục. Tài sản lưu động là đối tượng lao động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, mà đặc điểm của chúng là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh.