Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về NVH Thanh niên TP.HCM Chƣơng này sẽ nêu ra những khái niệm về văn hoá, hoạt động văn hoá, quản lý văn hóa, thiết chế văn hoá, nhà văn hoá; khái quát tình hình hoạt động VHNT tại một số nhà văn hóa và trung tâm văn hóa lớn cấp thành phố do Nhà nƣớc quản lý tại TP. Đồng thời giới thiệu tổng quan quá trình hình thành, phát triển của NVH Thanh niên TP. Chương 2: Thực trạng và đánh giá thực trạng các hoạt động VHNT của NVH Thanh niên TP.HCM Chƣơng này nêu giới thiệu 5 loại hình hoạt động VHNT mà NVH Thanh niên TP.HCM đã thực hiện từ năm 2011-2015, nêu ra các chƣơng trình tiêu biểu của từng loại hoạt động. Phân tích thực trạng thông qua so sánh số liệu báo cáo tổng kết hàng năm của NVH Thanh niên TP.HCM, phỏng vấn chuyên gia và bảng khảo sát từ khán giả tham dự các chƣơng trình … qua đó đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, lý do thu hút hoặc chƣa thu hút khán giả.
Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả các hoạt động VHNT của NVH Thanh niên TP.HCM Từ kết quả nghiên cứu đánh giá của Chƣơng 2; từ phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển văn hoá trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2015-2020; và mục tiêu phát triển các hoạt động VHNT của NVH Thanh niên trong tƣơng lai; từ những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, tác giả đƣa ra các giải pháp cụ thể để điều chỉnh, đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động VHNT do NVH Thanh niên TP.HCM tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thanh niên hiện nay. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ VĂN HÓA THANH NIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm về văn hoá và văn hóa nghệ thuật Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO), đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra.
Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển [39, tr. Theo Federico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Đối với một số ngƣời, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tƣ duy và sáng tạo; đối với những ngƣời khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [24]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [34, tr. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa VIII về văn hóa, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con ngƣời Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nƣớc” (Nghị quyết 33-NQ/TW) đã đƣa ra 5 quan điểm: 13 - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nƣớc. Văn hóa phải đƣợc đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. - Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trƣng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
- Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con ngƣời và xây dựng con ngƣời để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con ngƣời có nhân cách, lối sống tốt đ p, với các đặc tính cơ bản: yêu nƣớc, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. - Xây dựng đồng bộ môi trƣờng văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con ngƣời trong phát triển kinh tế.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Nghị quyết 33-NQ/TW cũng đề ra 6 nhiệm vụ và 4 nhóm giải pháp về văn hóa. Sáu nhiệm vụ bao gồm: xây dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện; xây dựng môi trƣờng văn hóa lành mạnh; xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động văn hóa; phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trƣờng văn hóa; chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bốn nhóm giải pháp gồm: tiếp tục đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc về văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa; tăng cƣờng nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa [4, tr.
Đây là quan điểm về phát triển văn hóa tại Việt Nam đến năm 2020. Quan điểm này làm rõ hơn khái niệm về văn hóa của UNESCO và chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa trong sự phát triển của đất nƣớc hiện nay. Quan điểm này cũng đã đƣợc nêu ra từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng Khóa VIII: “Văn hóa là 14 nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr. Nói đến văn hóa nghệ thuật, cho đến nay có nhiều ý kiến, cách giải thích và cách hiểu khác nhau, nhƣng chủ yếu văn hóa và nghệ thuật vẫn đƣợc xem là thuộc các hoạt động liên quan đến đời sống tinh thần của con ngƣời.
Theo tác giả Huỳnh Văn Thắng, thuật ngữ “văn hóa nghệ thuật” là một thuật ngữ kép gồm “văn hóa” và “nghệ thuật” (cả hai đều là danh từ) để chỉ hai lĩnh vực khác nhau hoặc có thể quan hệ nhau theo cách nghệ thuật là bộ phận của văn hóa (trong trƣờng hợp này, văn hóa là danh từ và nghệ thuật là tính từ). Đôi lúc cách viết thuật ngữ “văn hóa (nghệ thuật)” đƣợc dùng nhằm nhấn mạnh văn hóa là chính nhƣng có liên quan cả nghệ thuật trong đó hoặc ngƣợc lại, cách viết “văn hóa nghệ thuật” là để nhấn mạnh cả hai. Chúng ta có thể xác định rằng một mặt văn hóa (nghệ thuật) là những gì do chính con ngƣời sáng tạo ra nhƣng mặt khác, văn hóa (nghệ thuật) trong thực tế là kết quả của sự thẩm định, đánh giá của con ngƣời (cái trừu tƣợng) đối với mọi hiện tƣợng vật chất, tinh thần (cái cụ thể) hƣớng theo tiêu chí, chuẩn mực chung là “cái có ích” và tất cả đƣợc khái quát thành ba giá trị cơ bản thông qua ba khái niệm “Chân – Thiện – Mỹ” [51, tr. Theo tác giả Tạ Văn Thành, văn hóa nghệ thuật là sự phát triển năng lực nghệ thuật (thụ cảm, nhận thức, sáng tạo nghệ thuật) của con ngƣời, thể hiện ra trong hoạt động nghệ thuật) và kết tinh lại ở các giá trị nghệ thuật [49].
Văn hóa nghệ thuật bao gồm các giá trị sau: + Chủ thể nghệ thuật (nghệ sĩ – công chúng nghệ thuật) + Hoạt động nghệ thuật (sáng tạo – thụ cảm các tác phẩm nghệ thuật) + Giá trị nghệ thuật (Tác phẩm thuộc các loại hình, loại thể nghệ thuật) + Các thiết chế định hƣớng, quản lý, phổ biến nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật. Khái niệm về hoạt động văn hóa và quản lý văn hóa Theo tác giả Hoàng Vinh thì hoạt động văn hóa “nếu diễn đạt bằng thuật ngữ kinh tế học thì đó là quá trình sản xuất (sáng tạo), bảo quản, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa do quá khứ để lại và đƣơng thời tạo ra” [59]. Hoạt động văn hóa là hoạt động để đáp ứng nhu cầu văn hóa của con ngƣời. Các dạng phổ biến 15 gồm có: sáng tác và biểu diễn văn nghệ; giáo dục nhằm nâng cao kiến thức con ngƣời nhƣ thuyết trình, thƣ viện, thông tin, tọa đàm; lƣu giữ các sản phẩm văn hóa nhƣ bảo tàng, triển lãm, sƣu tập, lƣu trữ; tiêu dùng sản phẩm văn hóa nhƣ nghe nhạc, xem phim, đọc sách báo…tham quan du lịch; hoạt động lễ hội, tín ngƣỡng, phong tục, nếp sống văn hóa; hoạt động vui chơi giải trí.
Theo tác giả Hoàng Sơn Cƣờng thì quản lý văn hóa là sự định hƣớng, tạo điều kiện, tổ chức, điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hƣớng có ích cho con ngƣời, giúp cho xã hội loài ngƣời không ngừng đi lên. Cũng nhƣ sự quản lý nói chung với ý nghĩa là sự định hƣớng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá… quản lý văn hóa còn có thêm một số đặc điểm nhƣ quản lý văn hóa không chỉ là quản lý nhà nƣớc mà còn là sự tự quản lý của từng ngƣời, từng gia đình, tập thể, hàng xóm theo chuẩn mực chung của Nhà nƣớc; quản lý văn hóa không chỉ là quản lý các vật hữu hình mà còn quản lý những cái vô hình nhƣ tình cảm xã hội, tƣ tƣởng con ngƣời; sự quản lý văn hóa cũng không thể đơn tuyến, các thành phần văn hóa dù là của tƣ nhân, của tập thể, của đoàn thể, của xã hội hay của quốc gia, tất cả phải hoạt động theo một chuẩn mực thống nhất trên cơ sở pháp luật chung, thông qua các chính sách văn hóa xã hội của Nhà nƣớc [16, tr. Theo tác giả Phạm Quang Nghị thì khái niệm quản lý văn hóa phải bao gồm vấn đề bảo tồn gìn giữ nền văn hóa, phát huy những gì đã có và tiếp thu những cái mới để tạo ra những cái đ p trong cộng đồng xã hội. Nhiệm vụ của quản lý văn hóa là bảo tồn và phát huy toàn bộ các tri thức và kinh nghiệm, những giá trị mà dân tộc đã tích lũy đƣợc qua quá trình nhận thức và cải tạo thế giới [35, tr.